Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh

(LLCT) - Kế thừa truyền thống khoan dung tôn giáo của dân tộc, Hồ Chí Minh đã phát triển, nâng tầm thành tư tưởng khoan dung tôn giáo mang bản chất nhân văn của người cộng sản. Đây chính là một trong những yếu tố góp phần hình thành triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh. Và chính triết lý nhân sinh ấy đã tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc trong tư tưởng của Người về khoan dung tôn giáo; từ đó góp phần tập hợp, đoàn kết đồng bào tôn giáo vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc phục vụ sự nghiệp cách mạng.
Triết lý được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, có triết lý nhân sinh, triết lý về vũ trụ, triết lý kinh tế, triết lý đạo đức, triết lý lịch sử...
Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, triết lý nhân sinh được hiểu như sau: Nhân sinh là cuộc sống của con người ta. Nhân sinh quan là lập trường của một người trong việc nhận xét mọi mặt của cuộc sống, nhân sinh quan tức là quan niệm về sự sống con người(1).
Hồ Chí Minh chưa từng viết riêng một tác phẩm, chưa có một bài phát biểu nào trình bày về triết lý nhân sinh của mình. Nhưng, triết lý nhân sinh đó đã được thể hiện sinh động trong cuộc đời đấu tranh cách mạng không mệt mỏi và từ cuộc sống đời thường của Người. Triết lý nhân sinh đó là sự kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Giáo sư Trần Văn Giàu nhận xét: “Cho phép tôi hiểu rằng tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc chắn ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực tại hay là ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ, mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật đang phải sống trên quả đất này và chắc chắn còn sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó...”(2).
Như vậy, triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh chính là những quan niệm, quan điểm chung của Người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống, là những quan niệm của Người về cuộc sống, là tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống của Người.
Tư tưởng khoan dung có từ rất sớm trong lịch sử nhân loại cả ở phương Đông và phương Tây. Nhưng phải đến năm 1995, “Năm quốc tế khoan dung” Liên Hợp quốc mới đưa ra được định nghĩa chính thức về sự khoan dung: “Khoan dung là tôn trọng, thừa nhận và đánh giá tính phong phú và đa dạng của các nền văn hóa trong thế giới chúng ta. Khoan dung là hài hòa trong khác biệt. Nó không chỉ là một nghĩa vụ thuộc lĩnh vực đạo đức mà còn là một sự cần thiết về chính trị và pháp lý”(3). Trong Tuyên ngôn của Ủy ban UNESCO Việt Nam nêu rõ: “Khoan dung là một hình thức tự do, tự do về thiên hướng, về pháp lý. Một con người khoan dung là người làm chủ về tư tưởng và hành động của mình, khoan dung là một thái độ ứng xử tích cực, không hàm nghĩa ban ơn hay hạ mình chiếu cố đối với những người khác. Khoan dung là thừa nhận và chấp nhận sự khác biệt. Đó là học cách nghe, cách thông tin và cách hiểu người khác. Khoan dung là tôn trọng sự đa dạng của nền văn hóa, là sự cởi mở đối với các tư tưởng triết lý khác mình, là sự ham học hỏi, tìm hiểu những bổ ích để làm giàu cho bản thân, không bác bỏ những gì mà mình chưa biết. Khoan dung là tôn trọng quyền tự do của người khác. Khoan dung là thừa nhận không có một nền văn hóa, một quốc gia nào độc tôn về tri thức và chân lý”(4). Như vậy, về bản chất, khoan dung chính là thái độ tôn trọng, cách nhìn rộng lượng đối với những khác biệt giữa các quốc gia, dân tộc (về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, các quan điểm chính trị, triết học đạt đến chiều sâu,...). Nói cách khác, khoan dung là thái độ hài hòa trong khác biệt để cùng nhau tồn tại và phát triển trong hòa bình.
Trên tinh thần tiếp thu, kế thừa truyền thống khoan dung của dân tộc Việt Nam, với tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã xây dựng, thực thi và nâng cao văn hóa khoan dung lên một trình độ mới - khoan dung cộng sản chủ nghĩa; nhấn mạnh, đề cao các giá trị tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội. Vì thế, khoan dung tôn giáo đã trở thành giá trị chuẩn mực nhân văn, đạo đức của người cộng sản trong quan hệ ứng xử với đồng bào và chức sắc tôn giáo. Trong tư tưởng về khoan dung tôn giáo của Người cũng chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc, với quan niệm, tôn giáo là vấn đề con người và vì con người. Và cũng chính triết lý nhân sinh ấy đã tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc trong tư tưởng của Người về khoan dung tôn giáo.
Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh được thể hiện trong những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, triết lý nhân sinh thể hiện ở sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người. Theo Hồ Chí Minh, tôn trọng tự do tín ngưỡng tức là tôn trọng nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân, tôn trọng sự tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Hồ Chí Minh không gò ép hay bắt buộc mọi người phải theo một hệ tư tưởng nào đó, ai cũng có quyền tự do nghiên cứu một chủ nghĩa nào mà mình tin tưởng. Ngày 12-7-1946, trả lời phỏng vấn các nhà báo ở Roaya Mông Xô, Người nêu rõ: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Mác”(5). Cho nên cũng có thể nói, quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người đó cũng chính là quyền con người được tự do về tư tưởng.
Đối với Hồ Chí Minh, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là tôn trọng một trong những quyền cơ bản của con người, tôn trọng giá trị làm người, chứ không phải đơn thuần là vấn đề chính trị, mang tính chất tình thế. Nó thể hiện cái nhìn rộng lượng đối với những quan điểm khác biệt, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác, không áp đặt ý kiến của mình lên người khác, rất xa lạ với mọi thái độ kỳ thị, cuồng tín, giáo điều. Ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong đó chính là triết lý nhân sinh, tầm nhìn và tư tưởng khoan dung, nhân văn sâu sắc của Người đối với tôn giáo. Điều này được nhà sử học Xanhtơni (người không cùng quan điểm với Hồ Chí Minh) khẳng định: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi có các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu đối với tôn giáo nào bất kỳ”(6).
Thứ hai, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao những người sáng lập ra các tôn giáo, các học thuyết chính trị - xã hội cũng như các giá trị tích cực của các học thuyết đó. Người nói:
“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.
Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.
Chủ nghĩa C.Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.
Khổng Tử, Giêsu, Các Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(7).
Hồ Chí Minh luôn tôn trọng những người sáng lập ra các tôn giáo, đánh giá cao những giá trị trong giáo lý của các tôn giáo. Tôn trọng giáo chủ chính là tôn trọng những người theo tôn giáo, tôn trọng giáo lý của các tôn giáo chính là tôn trọng đức tin của họ. Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Người đã thể hiện sự hài hòa, chung sống, cùng tồn tại. Mỗi chúng ta có thể có xuất thân, quan điểm, đức tin khác nhau, nhưng quan trọng là phải biết tôn trọng sự khác biệt, thích nghi và cùng tồn tại. Muốn vậy, chúng ta phải tìm ra những mẫu số chung cho sự tồn tại đó. Hồ Chí Minh là người nhận thức sâu sắc nhất mẫu số chung đó, vì thế, trong mỗi tôn giáo, Người đều chỉ ra được những ưu điểm, không chỉ có giá trị với bản thân đức tin của tôn giáo đó, mà lớn hơn cả là đối với cả sự tiến bộ của xã hội loài người. Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”(8). Tư tưởng nhân đạo của Giêsu, tư tưởng từ bi hỉ xả, bình đẳng của Phật Thích Ca, tư tưởng “hòa mục xã hội” của Khổng Tử đã gặp gỡ với mục tiêu lý tưởng của CNXH mà chúng ta đang xây dựng. Như vậy, ẩn chứa trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh đó chính triết lý nhân sinh sâu sắc. Theo Người, mặt tích cực của các tôn giáo là đều hướng tới các giá trị cơ bản của con người, giá trị làm người.
Hồ Chí Minh đã đề cao sự tương đồng về mục đích giữa tôn giáo và CNXH. Người nói: “Mục đích Chính phủ ta đeo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người thì cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi theo con đường cứu khổ loài người”(9).
Triết lý nhân sinh Hồ Chí Minh là triết lý hướng đến mọi con người trong xã hội với những giá trị phổ quát chứ không phải là vì một vài cá nhân hay nhóm người nhất định. Vì vậy, không chỉ tôn trọng các vị giáo chủ, giáo sĩ mà Hồ Chí Minh còn rất quan tâm sâu sắc đến đời sống của đồng bào tín đồ. Người nhắc nhở và chỉ đạo cán bộ ở các cơ sở phải hết sức quan tâm đến đời sống mọi mặt của đồng bào, từ ăn ở đến học hành tiến bộ của họ: Giáo dân không thể chịu đói, chịu rét để đi lễ nhà thờ, do vậy, phải chăm lo cho họ “phần xác” no ấm, “phần hồn” vui vẻ.
Từ việc tiếp cận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, với triết lý nhân sinh: coi tôn giáo là vấn đề con người và vì con người; đề cao, khai thác các giá trị đạo đức của tôn giáo, Hồ Chí Minh đã thu hút, tập hợp được nhiều giáo sĩ, nhà tu hành và đông đảo giáo dân tham gia kháng chiến và xây dựng đất nước. Đây là cách giải quyết vấn đề tôn giáo trong điều kiện mới rất đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc, với tâm lý, tình cảm của con người Việt Nam.
Bên cạnh việc thừa nhận, tôn trọng và khai thác các giá trị về đạo đức, lý tưởng của tôn giáo, Hồ Chí Minh còn khẳng định tôn giáo là thành tố của văn hóa, là một bộ phận của văn hóa, có đóng góp rất lớn vào việc hình thành nhân cách và đời sống tinh thần của con người. Ngay từ đầu những năm 40 thế kỷ XX. Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(10). Như vậy, tôn giáo là từ cuộc sống mà ra, do con người và vì con người; tôn giáo là một thành tố, một bộ phận của văn hóa, hiện hữu trong đời sống con người. Đây chính là quan điểm duy vật của Hồ Chí Minh nhưng lại không hề có sự mâu thuẫn với các tôn giáo. Bởi, ẩn chứa trong quan điểm đó chính là thái độ tôn trọng tôn giáo và một triết lý nhân sinh sâu sắc, thể hiện tính nhân văn trong tư tưởng và con người Hồ Chí Minh.
Kế thừa triết lý nhân sinh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung tôn giáo, trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta đặc biệt quan tâm phát huy những giá trị tích cực về văn hóa, đạo đức của các tôn giáo. Nghị quyết Đại hội XII đã khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”(11).
Thứ ba, ứng xử khoan dung, độ lượng với những người vi phạm chính sách tôn giáo. Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo Hồ Chí Minh còn được thể hiện qua thái độ của Người đối với các linh mục, giáo dân lầm đường lạc lối, nghe theo sự dụ dỗ, cưỡng ép của kẻ thù. Người không những không bỏ rơi họ mà còn bày tỏ lòng đau xót về nỗi khổ của họ khi rời bỏ quê hương ra đi, chịu nhiều khổ ải, sẵn sàng mở lòng đón họ trở về. Người viết: “Số phận của những giáo hữu ấy khiến tôi rất đau lòng và chắc đồng bào cũng đủ sức đấu tranh đòi trở về quê cha đất tổ. Nhân dịp này, tôi xin nhắc lại cho đồng bào rõ: Chính phủ ta thật thà tôn trọng tín ngưỡng tự do. Đối với những giáo hữu đã nhầm di cư vào Nam, Chính phủ đã ra lệnh cho địa phương giữ gìn cẩn thận ruộng vườn, tài sản của những đồng bào ấy và sẽ giao trả lại cho những người trở về”(12).
Hồ Chí Minh luôn có lòng tin ở con người, bởi lòng tin đó có cơ sở vững chắc từ triết lý nhân sinh thấm đượm tính nhân văn sâu sắc của Người. Vì thế, Người khẳng định: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài... Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta... Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ”(13). Xuất phát từ niềm tin về bản chất thiện của con người, Hồ Chí Minh đã chủ trương, trong lúc cần tẩy trừ những kẻ bôi nhọ Thiên Chúa, làm tay sai cho đế quốc, phạm tội phản Chúa, phản quốc, hại dân thì cũng phải khoan hồng đối với đồng bào lầm đường lạc lối: “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”(14). Nhờ đó, đã thu hút được đông đảo đồng bào và chức sắc của các tôn giáo vào khối đại đoàn kết chung của dân tộc, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng Việt Nam.
Triết lý nhân sinh trong tư tưởng khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh là di sản tư tưởng quý báu để Đảng và Nhà nước ta kế thừa, vận dụng vào thực hiện chính sách tôn giáo và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị

(LLCT) - Mỹ và các thế lực thù địch xác định chính trị, tư tưởng là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Mục tiêu chống phá về chính trị là, xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân; xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH), phủ định chân lý “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng hệ tư tưởng tư sản, lối sống thực dụng trong các thế hệ người Việt Nam. Về tổ chức, tìm cách xâm nhập vào tổ chức đảng và nhà nước để chuyển hóa từ bên trong. Tạo dựng được những tên tay sai làm “ngọn cờ” quy tụ, tập hợp những phần tử chống CNXH ở Việt Nam vào các hoạt động phá hoại hệ thống chính trị (HTCT) ở nước ta hiện nay, khi có điều kiện, thời cơ sẽ lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam bằng cuộc cách mạng “nhung lụa” hoặc bạo loạn lật đổ (BLLĐ). Đó chính là cái đích nhằm đạt tới của hoạt động “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam của Mỹ và các thế lực thù địch.
Mỹ công khai xác định: “đấu tranh ý thức hệ là một cuộc chiến tranh quốc tế”. Trong những năm qua, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này ngày càng mở rộng về quy mô, phát triển về hình thức, tính chất phức tạp, quyết liệt ngày càng tăng, làm cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ diễn ra xuyên suốt, len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Mỹ và các thế lực thù địch đánh giá: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang khủng hoảng về lý luận, không thống nhất đường lối, chính sách”. Chúng kết hợp cả trong và ngoài nước thúc đẩy thực hiện những “chiến dịch” tiến công chống phá về lý luận, đường lối, quan điểm tư tưởng. Trong đó, then chốt là tiến công quyết liệt vào đường lối, Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng ta, nhằm loại bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, đưa quan điểm tư tưởng trái chiều, phản động vào trong Đảng, trong xã hội. Thực hiện âm mưu làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin, lý tưởng dẫn đến dao động, chuyển hóa theo chúng.
Để đạt được các mục tiêu trên đây, Mỹ và các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tập trung vào những vấn đề cơ bản dưới đây:
1. Phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng ta; xuyên tạc, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những thành tựu của cách mạng và chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta.
Xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu hàng đầu của Mỹ và các thế lực thù địch, nhằm làm mất phương hướng, giảm sút ý chí chiến đấu, xa rời mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Kẻ thù nhận thức rất rõ rằng, sở dĩ cách mạng Việt Nam vẫn đứng vững và tiếp tục phát triển đi lên bất chấp mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt do chính chúng gây ra là do chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc trong nhiều thế hệ người Việt Nam. Một trong những nguyên nhân làm cho CNXH ở Liên Xô và Đông Âu tan rã nhanh chóng là do kẻ thù của CNXH đã thành công trong việc gạt bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các thế hệ sau này. Chính ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô (trước đây) đã từ bỏ những nguyên lý có tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Các thế lực thù địch tập trung mọi cố gắng để chứng minh cho “Tính lỗi thời của học thuyết Mác - Lênin”.  Chúng cho rằng: “hầu hết các nước ngày nay đều bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước “ngoan cố” như Trung Quốc, Việt Nam là tôn thờ”. Gần đây, chúng tung ra luận điệu: “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay cả Bộ Chính trị”. Bằng thực tế sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng khẳng định: “mô hình đổ, nghĩa là học thuyết đổ. Thực chất chủ nghĩa Mác là một học thuyết hư vô, là sự biện hộ cho một khoa học tàn phá xã hội”. Chúng còn lớn tiếng tuyên bố: “Cách mạng Tháng Mười Nga là sự đẻ non; là sai lầm của lịch sử; CNXH hiện thực là quái thai, là sự phát triển ngoài nền văn minh nhân loại”, v.v. và v.v.. Chúng tuyên truyền vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm”. Chúng phủ định con đường cách mạng của Đảng và nhân dân ta từ năm 1930 đến nay. Chúng cho rằng, công cuộc đổi mới của Việt Nam là trở lại con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Chúng phủ nhận khả năng quá độ lên CNXH ở nước ta, vì theo chúng, “Việt Nam mất một điều kiện tiên quyết là sự giúp đỡ quốc tế XHCN”. Những luận điệu đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm và lòng tin của một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp nhân dân, gieo rắc sự hoang mang, dao động, giảm lòng tin và sự hoài nghi về CNXH và cuộc cách mạng mà chúng ta đang thực hiện. Những luận điệu này đã mở đường cho những ý tưởng nghi ngờ, bi quan về CNXH của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Phủ định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chúng tập trung phủ định nguyên lý về hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; nguyên lý về vấn đề đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, tập trung dân chủ và phủ định toàn bộ học thuyết này. Chúng tìm các lý lẽ để đổ lỗi cho mọi sai lầm của CNXH là do thực hiện chuyên chính vô sản. Mọi sai lầm của CNXH và cách mạng Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra. Xã hội Việt Nam chỉ có thể phát triển nếu như Việt Nam cùng thực hiện việc lật đổ chế độ XHCN như ở Đông Âu và Liên Xô. Để làm việc này, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ các nguyên tắc chuyên chính vô sản và nguyên tắc tập trung dân chủ.
Về lực lượng tiến công trên mặt trận chính trị, tư tưởng, chúng tranh thủ, kích động và sử dụng bọn xét lại chống Đảng, bọn cơ hội chính trị trong nội bộ Đảng ta là chủ yếu. Trong đó, chúng chú trọng tranh thủ, kích động, lôi kéo một số cán bộ hưu trí; đặc biệt chú trọng tranh thủ, lôi kéo một số ít cán bộ đã bị mất phương hướng, cơ hội chính trị, kém bản lĩnh, kết hợp với bọn phản động ở trong và ngoài nước.
Đáng chú ý là, trong những năm gần đây, chúng sử dụng nhiều đối tượng tham gia, cả cũ và mới (Nhân văn giai phẩm cũ, bọn xét lại chống Đảng cũ và mới); cả ngoài nước và trong nước; trên nhiều địa bàn (Bắc, Trung, Nam; trọng điểm là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh). Đặc biệt, chúng đã móc nối, sử dụng lực lượng cơ hội chính trị trong Đảng; trong đó có cán bộ lão thành, có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu và thành phần chống đối trong trí thức, văn nghệ sĩ để viết và tán phát tài liệu với luận điệu tự cho mình là cách mạng chân chính, đưa ra quan điểm lừa mị, kích động, rằng: “đội ngũ lãnh đạo hiện nay ở Việt Nam đang đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, do đó, cựu chiến binh và những cán bộ lão thành “trung kiên” phải đấu tranh để ngăn ngừa sự xuất hiện “Goócbachốp” ở Việt Nam”. Qua đó nhằm tập hợp lực lượng chống lại bộ máy lãnh đạo hiện nay của Đảng và Nhà nước ta.
Về hình thức, chúng tăng cường các hoạt động hợp pháp, kết hợp nửa hợp pháp và bất hợp pháp. Trong đó, nguy hiểm nhất là, chúng dùng hình thức hợp pháp, như: thông qua góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng các văn kiện, nghị quyết, Hiến pháp, luật lệ, hội thảo khoa học, gửi thư cho Trung ương và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và yêu cầu lãnh đạo ta phải trả lời, nhằm gián tiếp đối thoại với lãnh đạo cấp cao, vừa nhằm gây chia rẽ, phân hóa nội bộ, vừa gây mất phương hướng, chuyển hóa từ trong Đảng. Sau đó, biên soạn thành tài liệu phát tán rộng rãi ở trong và ngoài nước, công khai hóa quan điểm chống đối.
Về đặc điểm hoạt động, chúng lấy hoạt động “ngầm”, “sâu”, chuyển hóa từ bên trong là chính, kết hợp với những hoạt động gây biến động, bạo loạn chính trị, tăng cường hoạt động “công khai hóa”. Lợi dụng vấn đề “dân chủ hóa”, khai thác những sơ hở, thiếu sót của ta để đấu tranh trực diện, theo hướng “công khai hóa”, “hợp pháp hóa” những hoạt động chống đối. Phối hợp, liên kết giữa trong và ngoài nước mang tính chất “quốc tế hóa”. Chúng xác định “lấy hải ngoại làm hậu phương, quốc nội là tiền tuyến. Giữ vững chiến tuyến chống cộng hải ngoại và ra sức tiến công mãnh liệt vào Việt cộng tại quốc nội”.
Về nội dung, chúng tập trung vào luận điểm dân chủ tư sản, “CNXH dân chủ” dưới những hình thức, màu sắc khác nhau, núp dưới chiêu bài đổi mới, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng và phát triển triết học phương Đông...
- Xuyên tạc, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là, sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Song, chúng cố tình xuyên tạc tư tưởng của Người, chúng cho rằng, tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh là tư tưởng dân tộc, để qua đó chúng xuyên tạc, biến tướng tư tưởng của Người thành tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, tư tưởng dân tộc tư sản. Thực chất là tư tưởng phản động, phản bội của chúng, nhưng nhân danh Bác. Chúng còn cho rằng: “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tư do” là phi nhân tính”.
Tình báo Mỹ (CIA) và các thế lực chống đối, thù địch ở bên ngoài đã viết nhiều tài liệu và chỉ đạo, hỗ trợ cho bọn cơ hội chính trị, xét lại viết tài liệu dưới dạng lợi dụng vấn đề dân tộc để xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng đã viết và phát tán những tài liệu với chủ đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không có ảnh hưởng của tư tưởng Mác - Lênin”. Và, “con đường Bác Hồ đã chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH”, “Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện xây dựng CNXH ở Việt Nam là không đi theo con đường mà Bác Hồ đã chọn”.
Mặt khác, chúng chỉ đạo viết những tài liệu xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”. Gần đây, chúng viết tài liệu với đầu đề dưới dạng văn học “Cười chóp bu”. Trong đó, chúng đã dựng chuyện, vu cáo bỉ ổi, bôi nhọ Bác, kể cả về đời tư và sự nghiệp lãnh đạo cách mạng. Chúng cho rằng, khi đã lợi dụng được tư tưởng Hồ Chí Minh để chuyển hóa quan điểm lý luận thì sẽ xóa luôn cả vai trò, vị trí lịch sử của Bác, để dựng ngọn cờ mới dưới các chiêu bài chủ nghĩa xã hội dân chủ, CNXH nhân văn, CNXH nhân bản, thực chất là xóa bỏ CNXH khoa học và học thuyết Mác - Lênin.
- Phủ nhận con đường đi lên của cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Chúng hết lời ca ngợi Goócbachốp, công khai đi theo con đường TBCN: “Không nên cứ tôn thờ CNXH một cách lý thuyết suông mà không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường TBCN. Tự giác thì sẽ đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích chậm chạp hơn, đau đớn hơn”. Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho mô hình “xã hội dân chủ” và tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện âm mưu xóa bỏ chuyên chính vô sản, xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, phủ nhận đấu tranh giai cấp, gây mơ hồ về địch, ta; đề cao chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân tư sản. Đưa ra quan điểm về con đường “dân tộc” đi lên xây dựng xã hội văn minh do trí thức, sinh viên thanh niên làm nòng cốt; nhằm tác động vào giới trẻ để khuyến khích họ đấu tranh cho “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” và đẩy mạnh chiến tranh tâm lý tác động vào xã hội những khuynh hướng mơ hồ, lệch lạc để lừa bịp quần chúng nhân dân.
2. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Đây là một trong những nội dung chính của hoạt động “diễn biến hòa bình”, của hoạt động tuyên truyền phá hoại của kẻ thù trong những năm qua. Mỹ và các thế lực phản động tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền nhằm kích động quần chúng loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, như: chúng phê phán Đảng ta không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo, hạn chế dân chủ”. Chúng cho rằng: “độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại”. Và, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Chúng thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối lẫn chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta trong quá khứ, đặc biệt là ở lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội để chứng minh cho sự “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, gạt Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Chúng khai thác, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm trong chỉ đạo và thực hiện đường lối, chính sách, những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tha hóa, tạo ra sự phân hóa sâu sắc trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết trong Đảng và giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Theo quan điểm của các thế lực thù địch, muốn chiến thắng đối phương phải phá vỡ sự gắn bó trong tổ chức Đảng Cộng sản và giữa Đảng với nhân dân. Chúng khuyến khích cải tổ, cải cách, đổi mới triệt để, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để làm suy yếu, đi đến phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Gần đây, chúng tung ra một số luận điệu vu khống, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao ở các thời kỳ nhằm đề cao người này, hạ thấp người kia để chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của đảng viên, cán bộ và nhân dân. Chúng phủ định đường lối, chính sách của Đảng ta, với luận điệu: “kinh tế thị trường sẽ từng bước làm thay đổi bản chất chế độ XHCN còn non trẻ, ốm yếu ở Việt Nam... sẽ tới một ngày Chính phủ Việt Nam chỉ còn là Cộng sản trên danh nghĩa”.
3. Đẩy mạnh hoạt động chống phá về tổ chức nhân sự, tập trung vào lãnh đạo cấp cao chủ chốt; thực hiện chiến lược “đổi màu”, khoét sâu nội bộ; xây dựng lực lượng ngầm và tổ chức đảng phái chính trị chống đối
Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động tấn công vào đường lối, quan điểm, Mỹ và các thế lực thù địch chống phá ta quyết liệt về tổ chức nhân sự. Chúng đẩy mạnh hoạt động chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước ta; ra sức kích động gây mất đoàn kết (chia rẽ Bắc - Nam, già - trẻ, cũ - mới, ngành nghề, quân sự - dân sự, kinh tế - chính trị...). Qua đó, thực hiện âm mưu phân hóa, làm suy yếu Đảng và Nhà nước ta; tích cực cài cắm, xây dựng lực lượng trong nội bộ ta với ý đồ chui sâu, leo cao; thậm chí, chúng đã đề ra chủ trương xây dựng “Goócbachốp” trong lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình tiến hành chống phá ta về tổ chức nhân sự, các thế lực thù địch chủ trương vừa đẩy mạnh hoạt động chống phá nội bộ ta, vừa tích cực xây dựng lực lượng ngầm và tổ chức đảng phái chính trị chống đối, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, chuyển hóa, xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mỹ và các thế lực thù địch đánh giá: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong giai đoạn hẫng hụt về lãnh đạo, nội bộ mất đoàn kết, bị phân hóa. Cán bộ đảng viên suy thoái về đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật kém, các chủ trương của Trung ương đã bị các địa phương triển khai sai lệch, dẫn đến gây rối loạn chính trị, trật tự xã hội”. Chúng ráo riết tuyên truyền: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang khủng hoảng lãnh tụ”, không ai nói được ai. Chúng chủ trương vừa thúc đẩy các hoạt động chống phá ta về tổ chức, nhân sự, rồi tăng cường móc nối, xâm nhập vào nội bộ Đảng với ý đồ “gài bẫy” khống chế, chuyển hóa chế độ từ bên trong, bên trên; làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam “bị đổi màu, biến chất, mất vai trò lãnh đạo”.
Mỹ và các thế lực thù địch chủ trương triển khai đồng bộ để chuyển hóa, “đánh quỵ” một số cán bộ đương chức, cán bộ lão thành trung kiên và lớp cán bộ nguồn kế cận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước hết, tập trung vào những đồng chí lãnh đạo chủ chốt, trung kiên ở cấp cao, chúng gọi là đột phá vào những “boong ke” để làm mất chỗ dựa cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp. Đồng thời, tích cực xây dựng lực lượng ngầm, xây dựng ngọn cờ và các tổ chức đảng phái chính trị đối lập. Chủ trương của Mỹ là: “phải tìm cho được những con bài, ngọn cờ để tập hợp lực lượng áp đảo trong các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngọn cờ phải tìm ngay trong hàng ngũ lãnh đạo, những người có tư tưởng ảnh hưởng phương Tây”.
Việc chọn “ngọn cờ” cũng có nhiều loại, như: “ngọn cờ thí điểm”, “ngọn cờ quá độ”, “ngọn cờ chính thức”. “Ngọn cờ thí điểm” được xuất hiện trước để công khai nêu yêu sách, vừa nhằm thu hút dư luận trong và ngoài nước, gây áp lực; vừa để thăm dò phản ứng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta. “Ngọn cờ chính thức” được ẩn náu kín để xuất hiện “vào phút chót”. Đồng thời với quá trình này, chúng vận động, hỗ trợ để lập những tổ chức trá hình. Loại tổ chức trá hình này khá phức tạp, ta khó phân biệt được đâu là loại do địch chủ mưu lập ra, đâu là loại xuất phát từ nhu cầu thiết thực của quần chúng, đâu là loại vốn là tổ chức tốt nhưng đã bị địch cài cắm, lợi dụng, hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh có hàng ngàn hội, đoàn, câu lạc bộ mà ta chưa phân loại, kết luận được rõ ràng. Gần đây, một trung tâm CIA tại Mỹ đã đệ trình 4 “phương án” lên Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ về việc hỗ trợ cho lực lượng ở quốc nội ra đời một chính đảng đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, phương án tốt nhất hiện nay là sử dụng bọn cơ hội chính trị, xét lại cũ và mới để hình thành tổ chức chính trị đối lập. Chúng còn chủ trương: “sẽ tiếp tục xây dựng một lực lượng chính trị trung dung tại Việt Nam, kết hợp với việc xây dựng đội ngũ thực sự đã được đào tạo của CIA”. Mỹ xác định “đây mới chính là lực lượng đảm bảo cho việc lật đổ chế độ chính trị ở Việt Nam”.
Nhiều năm nay, chúng nỗ lực xây dựng, nhen nhóm tổ chức chính trị chống đối trong nội địa, nội bộ ta; nhưng đã bị ta phát hiện và kịp thời ngăn chặn có hiệu quả, như, đã làm thất bại ý đồ tái lập “Đảng Dân chủ”, lập “Đảng dân chủ xã hội”, lập “Liên minh dân chủ cấp tiến” ở phía Nam, “Mặt trận dân chủ cấp tiến” ở phía Bắc, Đảng “Dân chủ tự do Thiên Chúa giáo”, Đảng “Dân chủ tự do Phật giáo”, v.v..
Chúng đã và sẽ tiếp tục củng cố, phát triển, sử dụng 4 loại lực lượng: (1) Tình báo gián điệp làm tham mưu, nòng cốt, xung kích tổ chức hoạt động; (2) Lực lượng phản động trong các tôn giáo, dân tộc; (3) Lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ làm lực lượng hoạt động phá hoại trực tiếp; (4) Nguy hiểm nhất là lực lượng do CIA cấu kết với tình báo nước ngoài khác, sử dụng bọn “hậu chiến”, xét lại, cơ hội chính trị, thoái hóa biến chất trong nội bộ ta, dựng ngọn cờ “dân chủ cấp tiến”, tổ chức đảng phái đối lập “hình thành một tập hợp lực lượng dân chủ có đủ sức mạnh đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam”.
4. Mỹ và các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh đòn “lật án”, xuyên tạc lịch sử
Ở Việt Nam, chúng chỉ đạo ráo riết đánh đòn “lật án” từ đầu những năm 90. Trong nước đã xuất hiện những tài liệu phục vụ cho “lật án”; kèm theo đó là cuộc vận động ngầm trong số cơ hội chính trị, xét lại cũ và mới, tuy đã gây được sự hoài nghi trong một bộ phận quần chúng, cán bộ, đảng viên; nhưng về cơ bản, chúng vẫn chưa thực hiện được ý đồ. Hiện nay, Mỹ và các thế lực thù địch đang chỉ đạo phối hợp trong và ngoài nước để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện ý đồ “lật án”. Chúng đang viết và phát tán nhiều tài liệu bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng ta trong quá khứ.
Gần đây, chúng đã dịch ra tiếng Việt, chuyển vào Việt Nam và phát rộng rãi trên mạng Internet tài liệu gọi là “Báo cáo mật của Khơrúpxốp về Stalin”. Đây là ý đồ chuẩn bị về mặt lý luận cho bọn chống đối ở trong nước. Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, CIA đã chỉ đạo tiến hành một đợt mới viết tài liệu và vận động ngầm cho ý đồ “lật án”. Theo chúng, sẽ có những tài liệu loại này gửi lên Tổng Bí thư và Bộ Chính trị. Chúng chỉ đạo trước hết vẫn phải tập trung vào Việt kiều, từ vận động để “sửa sai” cho “vụ xét lại chống Đảng”, với luận điệu tuyên truyền “đây là lỗi lầm nặng nhất mà Đảng mắc phải”. Chúng xác định rằng, đây là khâu then chốt nhất trong đòn “lật án”, đánh vào chỗ này sẽ nảy sinh ra nhiều vụ khác, từ đó mà mở rộng đấu tranh, dựng “ngọn cờ”.
Trắng trợn vu cáo, xuyên tạc lịch sử, chúng cho rằng: “Dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa vẫn giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra”. Chúng lớn tiếng đòi “lật án” vụ “Cải cách ruộng đất”, vụ “Nhân văn giai phẩm”, vụ “Nhóm xét lại chống Đảng”. Và, cái gọi là vụ “đầu độc bốn vị tướng”,v.v. và v.v.. Gần đây, xuất hiện tài liệu “Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX”. Tài liệu này đã xuyên tạc vụ án “Nhóm chống Đảng” là “một điểm đen, một vết thương dai dẳng trong lịch sử và cơ thể chúng ta”. Vụ “Nhóm chống Đảng” không có thật - mà là một sự dàn dựng, chủ đích là thâu tóm quyền lực, đánh vào những ai có thể ngăn trở mưu đồ giành quyền”.
Sau khi chiến tranh Irắc kết thúc, bọn cơ hội chính trị và chống đối trong nước tuyên truyền rằng: “Phải dựa vào Mỹ về đường lối chính trị”. Và, “Việt Nam cần phải tỉnh ra”. Chúng cho rằng, “Mỹ tấn công Irắc sẽ có nhiều biến động chính trị. Và, cục diện thế giới sẽ ảnh hưởng đến xu thế phát triển tại khu vực và Việt Nam. Mỹ thắng ở I-rắc sẽ tạo ra thuận lợi để lực lượng cấp tiến phát triển, sự phối hợp trong, ngoài sẽ mạnh hơn. Mỹ sẽ đứng về phía những người “bị đàn áp nhân quyền”, mặt trận chính trị sẽ nóng bỏng hơn. Mỹ sẽ gây sức ép đòi “dân chủ hóa” chế độ, kết hợp với các hoạt động chống đối, tất yếu sẽ làm thay đổi cục diện ở Việt Nam. Việc nhượng bộ những đòi hỏi dân chủ hoặc phân chia quyền lãnh đạo cho các thành phần khác sẽ mở đầu cho sự trở lại của chế độ tư bản”.
5. Dùng vấn đề “tự do”, “dân chủ tư sản”, “đa nguyên chính trị” gây sức ép, đòi Nhà nước Việt Nam thay đổi bản chất chế độ
Từ năm 1986 đến nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước dấy lên một cao trào tuyên truyền cho “tự do”, “dân chủ tư sản”, “chủ nghĩa đa nguyên”. Đẩy mạnh hoạt động này, chúng nhằm hai mục đích. Thứ nhất, chúng gây sức ép với Nhà nước ta chấp nhận và hợp pháp hóa sự có mặt trên chính trường những tư tưởng tư sản và những lực lượng chính trị đối lập chống CNXH. Đây là cái bẫy rất hiểm độc mà chúng đã từng sử dụng ở một số nước Đông Âu và Liên Xô. Nếu chúng ta không sáng suốt, tỉnh táo thì khó lường hết những hậu quả sẽ xảy ra đối với chế độ XHCN ở nước ta, đối với Đảng và nhân dân ta. Thứ hai, nếu như về mặt công khai, mục tiêu này không đạt được, thì “việc tuyên truyền dân chủ, tự do tư sản, tuyên truyền cho đa nguyên, đa đảng sẽ kích động, khuyến khích được những người bất mãn, cá nhân chủ nghĩa, non kém về chính trị nổi lên chống CNXH ở Việt Nam”.
Như vậy, khi sử dụng nội dung trên đây vào các hoạt động phá hoại nội bộ Nhà nước ta, chúng đã “cấy” vào xã hội ta tư tưởng chống CNXH và tạo thế cho các lực lượng phi XHCN phát triển và có chỗ đứng ở Việt Nam. Đến một lúc nào đó, khi có thêm “chất xúc tác” vào, các lực lượng này sẽ là những nhân tố tạo ra “ngòi nổ” làm sụp đổ CNXH ở Việt Nam.
Bản chất của hoạt động tuyên truyền các nội dung trên đây là chống cộng, chống CNXH. Nó làm tan rã, làm triệt tiêu những giá trị tư tưởng của CNXH. Mặt khác, nó là những yếu tố kích thích sự phát triển các nhân tố phi XHCN trong lòng CNXH ở nước ta. Tất cả những việc làm và sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên mặt trận chính trị, tư tưởng trong thời gian qua đã gây tác động tiêu cực không nhỏ đến tình hình tư tưởng - chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Những kẻ cơ hội, xét lại, những phần tử bất mãn đã không tiếc công, tiếc sức tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản và con đường tư bản chủ nghĩa. Không ít người ngây thơ về chính trị đã ăn phải “bả độc” đó với những mức độ khác nhau.
_____________________

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

 10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm!

Mỗi phụ huynh đều muốn những điều tốt nhất cho con mình. Mặc dù chúng ta không thể dạy trẻ tất cả mọi kỹ năng mà chúng ta có thể tưởng tượng được, nhưng có một số kỹ năng sống cần thiết mà tất cả cha mẹ nên dạy cho con cái.

Những kỹ năng sống thiết yếu này sẽ giúp con bạn đối phó với các tình huống khó khăn tốt hơn và trở thành người có trách nhiệm, được tôn trọng và có vị trí trong xã hội.
1. Khuyến khích trẻ ham thích đọc và học
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 1
Càng đọc và học nhiều, bạn càng mở rộng trí tuệ với nhiều khả năng và biết nhiều thứ để trở nên thông minh và khôn ngoan hơn. Trẻ nên biết rằng, học tập không chỉ liên quan đến việc đọc và học sách giáo khoa. Có nhiều cách để học. Khuyến khích con bạn cởi mở và tiếp thu kiến ​​thức cuộc sống (cả tích cực và tiêu cực) của những người thông minh và thành đạt khác cũng như cha mẹ và thầy cô giáo.
2. Dạy trẻ giao tiếp với người khác
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 2
Thế giới hôm nay đã trở thành một "ngôi làng" toàn cầu. Giá trị của làm việc theo nhóm và chấp nhận những người khác không nề hà sự khác biệt của họ là điều đã và đang ngày một phát triển. Khuyến khích trẻ tham gia và làm việc hòa đồng với người khác để đạt được các mục tiêu chung. Bằng cách này bạn giúp trẻ hiểu rằng, cần khoan dung cho những quan điểm khác biệt, cũng như đồng cảm để hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người khác.
3. Dạy trẻ giải quyết các bất đồng một cách thân thiện
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 3
Những bất đồng là không thể tránh khỏi trong cuộc sống, đặc biệt là trong thế giới siêu cạnh tranh, đầy thách thức ngày nay. Trẻ em nên tập luyện để giữ một cái đầu tỉnh táo khi đối mặt với những cuộc đối đầu và bất đồng. Khuyến khích trẻ tập hít thở sâu để giữ sự  bình tĩnh, điềm đạm, cân nhắc mọi khía cạnh của một vấn đề và đặt câu hỏi như "tại sao" và "bằng cách nào" trước khi giải quyết mọi việc. Bằng cách đó họ tập trung vào vấn đề chứ không phải con người, và dễ dàng kiểm soát những cảm xúc nguy hiểm như tức giận hay bột phát.
4. Dạy trẻ em cách nhận biết sự nguy hiểm
Hãy để trẻ biết rằng, không phải lúc nào cha mẹ cũng luôn ở bên cạnh để bảo vệ chúng. Khuyến khích trẻ nhận biết sự nguy hiểm, biết giữ bình tĩnh tìm ra cách giải quyết, biết tìm đến cảnh sát, giáo viên, bảo vệ siêu thị để nhờ họ giúp đỡ. Dạy trẻ cách giao tiếp hiệu quả và cách trình bày rõ ràng, mạch lạc sẽ giúp con rất nhiều khi gặp khó khăn.
 5. Dạy trẻ em biết xin lỗi khi họ sai và biết tha thứ khi người khác đã nhận ra lỗi
Trẻ em nên biết mọi người đều có thể mắc sai lầm, nhưng sự tha thứ có thể chữa lành những sai lầm tồi tệ nhất. Không có xấu hổ khi xin lỗi cũng như tha thứ cho lỗi lầm của người khác. Trên thực tế, biết xin lỗi và biết tha thứ cho người khác là một biểu hiện của lòng can đảm thực sự.
6. Dạy cho trẻ thấy sự tử tế và giúp đỡ những người kém may mắn hơn khi có thể
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 4
Thể hiện sự tử tế bất ngờ không chỉ là một hành động đẹp, mà còn là cách dễ dàng nhất để chạm vào cuộc sống. Khuyến khích trẻ thể hiện sự tử tế và giúp đỡ bất cứ khi nào có thể. Nó sẽ giúp con phát triển lòng nhân hậu và sẽ hiểu được sự khác biệt giữa mong muốn và nhu cầu trong cuộc sống.
7. Dạy trẻ giữ được sự tích cực và tập trung nhiều hơn vào mặt tối đẹp của cuộc sống
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 5
Dạy cho trẻ hiểu rằng cuộc sống không phải luôn là ánh nắng mặt trời và cầu vồng lấp lánh, cũng không phải hoàn toàn là sự u ám và tăm tối. Cuộc sống là sự kết hợp của cả những điều tốt và xấu. Nếu tập trung vào mặt tích cực hơn là tiêu cực, bạn sẽ nhận thấy cuộc sống không toàn những cay đắng, đau khổ. Khuyến khích trẻ giữ được sự tích cực, đếm những may mắn của mình, tìm được niềm vui và hạnh phúc từ những điều "nhỏ bé" trong cuộc sống. Sự tích cực và tiếng cười có thể xóa tan mọi căng thẳng, đau đớn và ác mộng trên thế giới.
8. Dạy trẻ em biết bảo vệ môi trường và chăm sóc động vật
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 6
Dạy trẻ hiểu chúng ta chỉ có duy nhất một hành tinh này để sống. Do đó, tất cả mọi người cần phải chung tay bảo vệ và giữ gìn trái đất. 
9. Dạy trẻ biết giữ gìn vệ sinh và chăm sóc răng miệng
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 7
Dạy trẻ luôn biết giữ vệ sinh cá nhân, chăm sóc cơ thể gọn gàng, sạch sẽ. Trẻ em cần phải học cách vệ sinh và đánh răng ngay từ khi còn nhỏ. Khuyến khích trẻ tập các hành vi giữ gìn vệ sinh tốt và tập có một cuộc sống lành mạnh, bao gồm ăn uống đồ chín và tập thể dục đều đặn. Khi trẻ em được sạch sẽ, khỏe mạnh và vui vẻ, mọi người đều sẽ hạnh phúc.
10. Dạy trẻ yêu thương vô điều kiện
10 điều cha mẹ nhất định phải dạy nếu muốn con thành người tử tế, sống trách nhiệm - 8
Biết yêu thương là cảm xúc vĩ đại nhất của tất cả chúng ta. Dạy trẻ em biết yêu bản thân mình và biết yêu thương người khác không phải chỉ vì những gì họ làm, mà vì  bản thân họ là ai. Dạy trẻ biết yêu thương cha mẹ, ông bà, anh chị em ruột và họ hàng. Biết yêu thương và nghe lời thày cô giáo, yêu thương bạn bè và thương những người có hoàn cảnh khó khăn. Khi con đã đủ tuổi lớn hãy dạy cho chúng biết tầm quan trọng của của tình yêu với bạn khác giới và biết cách thực hành tình dục an toàn.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

Đừng đánh mất phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản

QĐND - Giản dị trong lối sống không chỉ là một đặc trưng làm nên nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, mà còn là một giá trị đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, những năm gần đây, do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, một bộ phận cán bộ, đảng viên đang tự mình đánh mất tính giản dị vốn là phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản.

Một trong những nét đặc trưng làm nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng chỉ ra: “Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Tính giản dị trong lối sống của con người Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của một dân tộc sinh ra, lớn lên và gắn bó với nền văn minh lúa nước, gắn kết với cộng đồng làng xã. Thời xa xưa, do nghề trồng lúa nước phải phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên, nên người Việt luôn có ý thức tích cốc phòng cơ, chi tiêu tiết kiệm, sinh sống đạm bạc, giản dị, phòng khi mùa màng thất bát hay thời kỳ giáp hạt khó khăn vẫn có của ăn của để nhằm tránh rơi vào tình cảnh đói khát.
Ảnh minh họa. Nguồn: baochinhphu.vn 
Theo quan niệm của ông cha ta, tính giản dị trong lối sống không phải là “gò” mình vào cuộc sống kham khổ, cũng không phải là thói keo kiệt bủn xỉn đến mức giống anh chàng “đến chết vẫn hà tiện” như một câu chuyện ngụ ngôn, mà đó chính là một phương châm sống lành mạnh, một nếp sống thanh cao, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân, gia đình và không rời xa những chuẩn mực đạo đức chung của cộng đồng. Từ xưa đến nay, những bậc chí sĩ, túc nho, văn nhân, anh hào đều lấy sự thanh tao trong cuộc sống làm niềm vui, coi tính giản dị trong lễ tiết, tác phong và nếp sống làm trọng. Nhiều vị quan thanh liêm còn sống mãi với nhân dân, trường tồn trong lòng dân tộc bởi họ có một điểm chung: Đó là lòng yêu nước thương dân, tự nguyện hòa mình vào cuộc sống cần lao của người dân, không bao giờ sống hưởng thụ, xa hoa trong khi đời sống đồng bào còn nhiều gian khó.
Thời nay, khi kinh tế-xã hội đất nước phát triển, của cải vật chất dồi dào hơn, nhân dân nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng không nhất thiết phải sống tằn tiện như thời bao cấp. Tuy vậy, cán bộ, đảng viên cũng không nên và không được phép sống xa hoa, cách biệt với nhân dân, bởi sống như vậy không chỉ là xa rời những giá trị truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, mà còn trái với đạo đức cách mạng của người cộng sản. Điều cảnh báo mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ ra: Một bộ phận cán bộ, đảng viên sống “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc của người dân” có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất.
Việc Đảng ta nhận định một bộ phận cán bộ, đảng viên sống “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn của người dân” là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống là có cơ sở. Bởi sự thờ ơ, vô cảm, thái độ bàng quan, lạnh lùng, thiếu đồng cảm và tình thương yêu đồng loại là hoàn toàn xa lạ, trái ngược với giá trị đạo đức của con người. Đối với cán bộ, đảng viên mà thờ ơ, vô cảm lại càng đáng phê phán, vì đây là “triệu chứng” làm cho căn bệnh ích kỷ cá nhân có cơ hội lên ngôi và cũng là mầm mống của sự sa ngã, tha hóa về phẩm chất đạo đức cách mạng.
Thời gian qua, không khó để nhận diện được những biểu hiện sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nếu thấu hiểu đời sống còn nhiều khó khăn của người dân, thì không có tình trạng cán bộ ở nhiều địa phương sa đà vào ăn uống, nhậu nhẹt, tiếp khách lãng phí, thậm chí có xã nghèo ghi nợ chủ quán hàng chục triệu đồng. Nếu hiểu lòng dân, cũng khó diễn ra cái cảnh đám cưới rình rang, đình đám, phô trương của con “ông bí thư nọ, bà chủ tịch kia” giữa thanh thiên bạch nhật. Nếu thực tâm sẻ chia với đời sống lam lũ của bao người dân quanh năm đầu tắt mặt tối với ruộng đồng và quý trọng từng thước đất trồng lúa, trồng cây của bà con nông dân, thì cũng không có chuyện mấy ông cán bộ sở, ngành, doanh nghiệp ở một số địa phương (Yên Bái, Đắc Lắc, Đồng Nai, Sóc Trăng…) xây dựng những công trình tư gia hoành tráng trên đất lâm, nông nghiệp. Hay gần đây, câu chuyện ồn ào về con gái một cán bộ nguyên lãnh đạo cao cấp ngành ngân hàng sở hữu một biệt phủ rộng hơn hai nghìn mét vuông ở huyện Bình Chánh (TP Hồ Chí Minh) khiến dư luận không khỏi hoài nghi về nguồn gốc xuất xứ khối tài sản “khủng” của một người phụ nữ mới 22 tuổi; đồng thời dư luận cũng đặt dấu hỏi về phẩm chất liêm chính, đức tính giản dị của một cán bộ từng công tác lâu năm trong một ngành quan trọng của đất nước.  
Có lẽ không ngẫu nhiên mà trong Hội nghị xúc tiến đầu tư tại tỉnh Sơn La tổ chức tháng 7-2017, sau khi kêu gọi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hướng về miền núi đầu tư, hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển cho các tỉnh vùng cao, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã bày tỏ trăn trở khi nghe các thông tin về lối sống phô trương, lãng phí, gây nhiều phản cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở một vài tỉnh miền núi. Cũng từ diễn đàn này, Thủ tướng đã “đánh động lương tâm” những cán bộ, đảng viên đang có biểu hiện trượt dài vào lối sống xa hoa cần phải nhớ đến những câu chuyện cảm động về tinh thần hy sinh, nghĩa tình cao cả mà các thầy cô giáo ở những vùng lũ lụt đã hết lòng vì học sinh thân yêu, hết lòng vì thế hệ tương lai của đất nước; nhớ đến hàng vạn hộ dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa vẫn đang phải lo toan vất vả để kiếm kế sinh nhai, chắt chiu từng đồng tiền để nuôi con ăn học. 
Vẫn biết, cán bộ, công chức, đảng viên cũng là con người, do vậy ai cũng có nhu cầu thiết thân như bao người dân trong xã hội. Nhưng cán bộ, công chức, đảng viên có sứ mệnh cao cả là cùng các cấp ủy, chính quyền chăm lo cuộc sống, công ăn việc làm, học hành, sức khỏe… của người dân, nên phải có trách nhiệm với từng “đồng tiền bát gạo” mà người dân đã đóng góp, nuôi dưỡng bản thân mình. Mặt khác, cán bộ, công chức là hình ảnh thu nhỏ của bộ máy công quyền, do đó phải có trách nhiệm là tấm gương soi chiếu, dẫn dắt toàn dân hướng về và thực hiện những điều tốt đẹp, văn minh để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên tự mình thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính” như lời Bác Hồ đã dạy; đồng thời luôn biết tiết chế, kiểm soát bản thân để không bị sa ngã, quyến rũ bởi những cám dỗ vật chất tầm thường.
Rèn luyện nếp sống thanh cao, giản dị; hòa chung với nhịp sống cần lao của người dân; cùng thấu hiểu, sẻ chia với những khó khăn của đồng bào; lắng nghe nỗi niềm lo lắng của bà con và tìm cách tháo gỡ, giải quyết những vướng mắc từ cơ sở… không chỉ góp phần tôn lên vẻ đẹp nhân cách của người cán bộ, đảng viên, mà đó còn là việc làm thiết thực để góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về đạo đức.
THIỆN VĂN                      

“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông

QĐND - Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ.

Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử.
11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Ảnh tư liệu.
Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra.
Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện.
Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc.
Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi.
Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”.
Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên.   
Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.
THIỆN VĂN

Đoàn kết, lời căn dặn thiết tha của Bác 6:18' 11/3/2018 Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngoài cùng bên trái) với các đại biểu về dự Đại hộ...