Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Kiểm soát quyền lực ngăn chặn lợi ích nhóm
7:47' 25/11/2017

Theo dõi mấy vụ kỷ luật cán bộ cấp cao và các đại án thấy rõ mối quan hệ một số cán bộ cơ quan công quyền liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp để bảo kê, bao che, lũng đoạn chính sách, đưa người thân cận vào tổ chức thao túng, làm trái chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước, tham nhũng, vơ vét công quỹ, tài sản, tài nguyên của đất nước làm giàu bất chính cho một nhóm người và cho riêng bản thân mình.  

Lợi ích nhóm ở nước ta với hàm nghĩa một nhóm người lấy lợi ích của nhóm mình làm trung tâm, làm mục tiêu duy nhất để hành động, xa rời lợi ích chung của nhân dân, đất nước. Đó là chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết mình không đoái hoài đến lợi ích của những người khác. Lợi ích nhóm này liên quan đến những người có chức, có quyền ở tất cả các cấp trong hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, các tập đoàn, doanh nghiệp… Họ liên kết với nhau theo nhiều con đường: bằng tiền của hối lộ người có chức có quyền để tạo thành vây cánh bảo kê, che chắn hoặc được hưởng lợi từ chính sách để làm giàu. Họ bổ nhiệm người nhà, người thân, người quen, dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo. Họ luồn lót để từ doanh nghiệp kinh tế sang đứng đầu các cơ quan trong hệ thống tổ chức của Đảng và Nhà nước.            
Các nhóm lợi ích đang tập trung khai thác trên ba lĩnh vực: Bòn rút ngân sách Nhà nước; tài nguyên khoáng sản của đất nước và tiền bạc của nhân dân; tác động và làm sai lệch chính sách, đồng thời khai thác những khiếm khuyết chưa hoàn thiện trong chính sách của Nhà nước. Minh chứng là những đại án hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp của Nguyễn Đức Kiên, Hà Văn Thắm, Huyền Như, các vụ kỷ luật cán bộ cấp cao như Vũ Huy Hoàng, Trịnh Xuân Thanh…              

Đảng ta là Đảng cầm quyền, Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng xác định: Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Người đứng đầu các tổ chức công quyền từ Trung ương đến địa phương, những tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước đều là đảng viên, cán bộ của Đảng. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều quy định, luật định khá toàn diện, cụ thể, nhưng qua các vụ án, những sai phạm nghiêm trọng của không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý được đưa ra xét xử cho thấy nhiều cán bộ lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, mất hết ý chí lẫn đạo đức.          

Khi một đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo mà đặt lợi ích cá nhân lên trên tập thể cũng có nghĩa không còn duy trì được nguyên tắc tổ chức của Đảng, dẫn đến sự vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, không còn vị trí tiên phong của Đảng cầm quyền. Dân giảm lòng tin với Đảng.          

Khi một người đứng đầu cơ quan làm trái với quy định của Nhà nước thì không chỉ tác hại trong phạm vi đơn vị mà tùy mức độ và phạm vi của một ngành, một địa phương mà có thể lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác, thiệt hại khôn lường, không những mất tiền của mà mất cán bộ, gây ra tình trạng bức xúc trong xã hội.

Với một cán bộ đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo hoặc đứng đầu một cơ quan đã không ghép mình vào tổ chức, không chấp hành nguyên tắc tổ chức, làm trái các quyết định của tổ chức cũng có nghĩa đi ngược lại lợi ích của nhân dân là đã vi phạm đạo đức của người cộng sản, mưu lợi cá nhân, làm “mất lòng tin của nhân dân cũng có nghĩa là mất tất cả”.          

Những hiện tượng trên là biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bắt nguồn từ sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời các nguyên tắc của Đảng. Từ lũng đoạn kinh tế dẫn đến lũng đoạn chính trị, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng. Vì vậy kiểm soát quyền lực trở thành yêu cầu bức bách để ổn định và phát triển.  

Kiểm soát quyền lực phải thực hiện đồng bộ trong hệ thống chính trị, trước hết trong Đảng. Kiểm soát quyền lực trong Đảng chính là kiểm soát quyền lực cá nhân đảng viên, cán bộ có chức vụ trong các tổ chức đảng, bộ máy nhà nước bằng kiểm tra, giám sát. Việc kiểm tra, giám sát này trước hết thuộc về của tổ chức cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp ủy. Việc kiểm tra tiến hành 3 khâu quan trọng: sự giám sát, kiểm tra của cấp ủy; kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với cấp dưới và của cấp dưới đối với cấp trên; giám sát của người dân đối với tổ chức đảng và đảng viên. Trong đó khâu quan trọng nhất là sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng với đảng viên. Bởi trong hệ thống chính trị nước ta hầu hết cán bộ cao cấp, người đứng đầu các cơ quan Nhà nước, đoàn thể là đảng viên, được cấp ủy giới thiệu tham gia ứng cử vào cơ quan và tham gia cấp ủy của cơ quan đó. Nếu những người này bị tha hóa biến chất, lợi dụng quyền lực để lộng hành, thậm chí “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” thì trách nhiệm trước hết thuộc về các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy đó. Và một khi người đứng đầu cấp ủy bị tha hóa, biến chất thì trách nhiệm thuộc về cấp ủy cấp trên trực tiếp. Nên sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng rất quan trọng, việc này phải làm thường xuyên, định kỳ và đột xuất khi đảng viên có dấu hiệu vi phạm.    

Giám sát của người dân được xác định từ bản chất quyền lực nhà nước ta là của nhân dân. Giám sát của người dân thông qua việc thực thi rộng rãi quyền dân chủ; kể cả hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thông qua chế độ tranh cử, đề bạt và miễn nhiệm cán bộ; minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân được giao quyền lực; sự giám sát của công luận, của nhân dân; tự do tư tưởng và tự do ngôn luận để thể hiện chính kiến của những con người tham gia làm chủ đất nước.Vấn đề đặt ra không mới, bởi Đảng ta đã xác định cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.          

Quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực Nhà nước, quy định trong Hiến pháp và các luật liên quan về cơ cấu và chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, trong đó có sự phân quyền giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, các nhánh ấy độc lập tương đối với nhau, giám sát chéo và điều chỉnh lẫn nhau, nhằm hạn chế sai lầm, hoặc khi có sai lầm thì được phát hiện và điều chỉnh, khắc phục sớm nhất.

Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017

BÀI THƠ: "THẲM SÂU MIỀN KÝ ỨC"

Đăng lúc: Thứ sáu - 17/11/2017 19:43 - Người đăng bài viết: admin
BÀI THƠ: "THẲM SÂU MIỀN KÝ ỨC"
Hơn 40 năm qua, các thế hệ Thầy Cô giáo Trường Đại học Chính trị đã vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách để đào tạo hàng vạn cán bộ cho toàn quân, góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; đồng thời, để lại tấm gương cao đẹp về hình ảnh người Thầy trong lòng lớp lớp các thế hệ học viên. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2017), Ban biên tập Website xin trân trọng giới thiệu bài thơ “THẲM SÂU MIỀN KÝ ỨC” của đồng chí Trung tướng, PGS, TS Phạm Quốc Trung dành tặng các Thầy Cô giáo của Nhà trường!

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

 Công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
 
Đại tướng Ngô Xuân Lịch tặng thanh niên Quân đội bức trướng với nội dung:
“Trung thành, dũng cảm; tâm trong, trí sáng; chủ động, sáng tạo; đoàn kết, kỷ luật;
xung kích, quyết thắng”  

Cùng dự có: Thượng tướng Lương Cường, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Lê Quốc Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Phát biểu khai mạc, Thượng tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam khẳng định, 5 năm qua, công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội có sự phát triển toàn diện, vững chắc trên nhiều mặt. Tổ chức Đoàn các cấp được xây dựng vững mạnh, tích cực tham gia xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Thanh niên Quân đội luôn xung kích, đi đầu trong nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân; xuất hiện nhiều mô hình, điển hình tiên tiến, xuất sắc, gương người tốt, việc tốt có sức lan tỏa mạnh mẽ trong tuổi trẻ cả nước và xã hội. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, thanh niên Quân đội luôn một lòng, một dạ trung thành tuyệt đối với Đảng, với sự nghiệp cách mạng; nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân.
5 năm qua, tuổi trẻ toàn quân đã tổ chức thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao”; “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ” và các phong trào do Trung ương Đoàn phát động gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”,  phong trào thi đua Quyết thắng của toàn quân. Đáng chú ý, hoạt động Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” trong Quân đội có sự phát triển mạnh mẽ, qua đó cổ vũ, động viên tuổi trẻ toàn quân phát huy tài năng, trí tuệ với 5.967 công trình, sáng kiến cấp cơ sở; 1.831 công trình, sáng kiến tham gia cấp toàn quân; 429 công trình, sáng kiến tham gia Festival “Sáng tạo trẻ”, giải thưởng “Quả cầu vàng”, Vifotec...
Tuổi trẻ Quân đội đã đóng góp hàng triệu ngày công, xây dựng hơn 100 km đường bê tông trị giá gần 50 tỷ đồng, nạo vét gần 1.000 km kênh mương, xây dựng hơn 200 phòng học ở vùng sâu, vùng xa, biên giới; khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 308.000 lượt người; xây 668 ngôi nhà từ mô hình “Ngôi nhà 100 đồng” trị giá hơn 46 tỷ đồng tặng cán bộ, đoàn viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gia đình chính sách; hiến tặng 62.434 đơn vị máu; phối hợp tổ chức hơn 450.000 lượt học sinh tham gia chương trình “Học kỳ Quân đội”, giúp đỡ hơn 2.800 học sinh đến trường, tu sửa 6.250 nhà văn hóa, điểm vui chơi thiếu nhi… là lá cờ đầu trong công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi cả nước, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Đại tướng Ngô Xuân Lịch ghi nhận, đánh giá cao những thành tích đạt được trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội 5 năm qua. Bộ trưởng yêu cầu tuổi trẻ Quân đội cần thường xuyên quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, nhất là các nghị quyết, chỉ thị về công tác thanh niên quân đội trong thời kỳ mới; bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội để xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hoạt động đúng định hướng, góp phần tích cực vào công tác xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xứng đáng là lực lượng xung kích, đi đầu trong phong trào thi đua Quyết thắng của Quân đội.
Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống vẻ vang của Đảng, của Đoàn và của Quân đội, xây dựng niềm tin và truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu để thanh niên có kiến thức chuyên sâu, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có khả năng tự lực, tự rèn, thích ứng nhanh với thực tiễn, không ngừng phấn đấu vươn lên làm chủ khoa học, công nghệ, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại; tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, có lối sống văn hóa, trung thực, lành mạnh, đoàn kết, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại tướng Ngô Xuân Lịch yêu cầu thanh niên Quân đội cần tiếp tục xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh, thực sự là trường học xã hội chủ nghĩa trong Quân đội, đội dự bị tin cậy của Đảng; coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả sinh hoạt và hoạt động phù hợp với tâm lý tuổi trẻ, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự quản của đoàn viên thanh niên; chủ động phát hiện, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú, tạo nguồn phát triển đảng viên trẻ, cán bộ trẻ.
Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng” và các phong trào do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và phong trào thi đua Quyết thắng của Quân đội; đổi mới hoạt động thi đua theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, xung kích vào những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, khâu yếu, mặt yếu; hướng phong trào thi đua vào nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội, nhất là nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, chủ động phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hay, sáng tạo, các điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực công tác, tạo sự lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, toàn quốc.
450 đại biểu dự Đại hội cũng đã xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào thanh niên Quân đội 5 năm tới, với 3 khâu đột phá, 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện thắng lợi 5 nhóm chỉ tiêu, trong đó có một số chỉ tiêu như: 100% cán bộ, đoàn viên, thanh niên được học tập, quán triệt, tuyên truyền về các nghị quyết, chương trình hành động của Đảng, của Đoàn, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ đơn vị; 100% cán bộ, đoàn viên thanh niên được huấn luyện quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; chấp hành nghiêm chế độ công tác, sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống; 100% thanh niên được kết nạp vào Đoàn sau khi huấn luyện chiến sĩ mới; trên 11% số đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng.../.

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Hội chứng né tránh trách nhiệm
15:41' 6/5/2017
(Ảnh minh họa)
Cái gì cũng xin ý kiến Thủ tướng, từ việc bị "cát tặc" đe dọa, đến việc điều chỉnh giá xăng dầu, việc xây dựng bệnh viện… Cái gì cũng chờ ý kiến thường vụ, từ việc thanh tra quy trình bổ nhiệm, đến việc xử lý lấn chiếm đất công, việc bảo đảm trật tự vỉa hè… Xin ý kiến những việc không đáng xin, chờ ý kiến những việc không đáng chờ là những biểu hiện rất dễ nhận biết của hội chứng né tránh trách nhiệm. Né tránh trách nhiệm không chỉ xảy ra ở những người có chức, có quyền, mà cả nhiều cán bộ, công chức bình thường khác. Cái gì họ cũng xin ý kiến, cái gì họ cũng chờ chỉ đạo. Có vẻ như rất nhiều người chỉ làm mỗi việc là: “tham mưu cho cấp ủy và chính quyền”. Ai cũng chỉ là tham mưu, chẳng ai đủ quyết đáp để xử lý bất cứ một vấn đề gì.


Hội chứng né tránh trách nhiệm dường như đang làm cho nền quản trị quốc gia của chúng ta ngày càng tỏ ra kém hiệu năng, chi phí cơ hội cho công ăn, việc làm, cho kinh doanh và sáng tạo ngày càng tăng cao. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc gì người dân và doanh nghiệp cũng phải chờ đợi.
Hiện tượng né tránh trách nhiệm có vẻ còn nghiêm trọng hơn, khi sai phạm đã xảy ra và để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho dân, cho nước. Ở nhiều nước trên thế giới, khi cầu sập, phà chìm, máy bay rơi…, bộ trưởng giao thông sẽ đứng ra nhận trách nhiệm. Kể cả khi họ chẳng hề có lỗi gì trực tiếp trong những sự cố như vậy. Ở ta, biển bị ô nhiễm, đập bị vỡ, bùn bị tràn… chẳng thấy một ai chịu đứng ra nhận trách nhiệm. Kể không hết những việc “ai cũng hiểu, chỉ một người không hiểu”. Việc nâng đỡ, đề bạt một “hot girl” bất chấp mọi chuẩn mực pháp lý và đạo lý, việc cựu lái xe cho thủ trưởng “có” nhiều nhà đất hơn cả thủ trưởng, việc cả họ làm quan ở một địa phương… là những việc mà toàn dân, toàn Đảng ai cũng hiểu, nhưng những người phải chịu trách nhiệm chính thì lại không hiểu. Quả bóng trách nhiệm vì vậy bị đá câu giờ vòng vo. Điều này không chỉ gây mất lòng tin, mà còn cả sự coi khinh của công chúng.
Thông thường, ngoài cách “đá bóng” lên cho cấp trên, trong thực tế vẫn còn có mấy cách khác nữa để né tránh trách nhiệm.
Cách thứ nhất là che chắn bằng quy trình. Đề bạt người nhà, người thân cùng làm lãnh đạo trong khi đức, tài chưa đủ là sai. Việc này từ cả 500 năm trước cha ông chúng ta đã cho là sai. Luật hồi tỵ thời vua Lê Thánh Tông đã cấm cha con, anh em, bạn học… không được làm quan một nơi (Luật này thậm chí còn cấm các quan chức không được lấy vợ, tậu ruộng vườn, nhà cửa ở nơi mình chấp pháp). Đáng buồn là một cái sai rõ ràng như vậy nhưng lại đúng quy trình. Thực ra, khi một người đã làm lãnh đạo cao nhất cơ quan hoặc địa phương, việc thao túng quy trình là khá dễ dàng. Nếu không có liêm chính, họ chỉ cần nói xa nói gần với cán bộ tổ chức là quy trình sẽ được khởi động đúng hướng ngay. Đó là chưa kể khả năng của một lãnh đạo gửi gắm “các anh, các chú” là gần như vô cùng, vô tận. Mà thật ra, nhiều khi cũng chẳng cần gửi gắm. Không nói ra thì ai cũng hiểu “nếu anh ấy hay chị ấy không đồng ý, thì tổ chức đâu dám làm như vậy”. Chính vì vậy, khi để xảy ra việc đề bạt người thân, người nhà, quy trình thường ít có ý nghĩa.
Cách thứ hai là đổ lỗi cho tập thể. Việc chuyển đất rừng để nuôi bò lấy thịt, việc tuyển dụng, đề bạt thần tốc một doanh nhân, việc quy hoạch treo hàng trăm, hàng nghìn héc-ta đất… tất cả đều do thường vụ quyết. Thường vụ quyết thì cá nhân không phải chịu trách nhiệm và không thể chịu trách nhiệm. Có lẽ, đây cũng là lý do giải thích tại sao ở không ít địa phương mọi việc từ to đến nhỏ đều được trình cho thường vụ. Thường vụ đã quyết là em tuyệt đối yên tâm. Vấn đề chưa hẳn là vì thường vụ đã quyết thì không sai, mà chủ yếu là vì thường vụ đã quyết thì em sẽ không phải chịu trách nhiệm.
Đâu là nguyên nhân của tình trạng né tránh trách nhiệm xảy ra khá phổ biến hiện nay?
Nguyên nhân đầu tiên đã được Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) chỉ ra là suy thoái đạo đức. Không dám chịu trách nhiệm về công việc của mình; không quyết đáp vì làm thì vất vả, mà lợi ích thì chưa thấy đâu; chỉ nói chứ không làm vì ngại đụng chạm… là những biểu hiện dễ nhận biết của suy thoái đạo đức. Khi một người cán bộ không dám nhận trách nhiệm, thì người đó chỉ sống vì mình và cho mình là chính.
Ngoài ra, việc phân công, phân nhiệm trong hệ thống của chúng ta cũng chưa đủ rõ ràng, mạch lạc. Chúng ta vẫn chưa có được sự phân định rạch ròi về chế độ trách nhiệm giữa những người làm chính khách với những người làm công chức; giữa tập thể với cá nhân; giữa những người làm trong bộ máy cơ quan đảng, đoàn thể với những người làm trong bộ máy nhà nước. Quy trình áp đặt chế độ trách nhiệm theo cách kỷ luật đảng phải được xử lý trước, rồi mới xử lý kỷ luật về phía chính quyền cũng làm cho mọi việc có thể trở nên chậm trễ, khó khăn. Đó là chưa nói tới rủi ro của việc công đoạn trước hoàn toàn có thể vô hiệu hóa công đoạn sau của quy trình áp đặt chế độ trách nhiệm.
Cuối cùng, hội chứng né tránh trách nhiệm là một vấn đề rất lớn. Để xử lý vấn đề này, bên cạnh việc nâng cao đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiến hành cải cách thể chế sâu rộng để xây dựng một hệ thống chế độ trách nhiệm rõ ràng, mạch lạc cùng các công cụ áp đặt chế độ trách nhiệm hiệu quả là nhiệm vụ rất cấp bách hiện nay.
Cải cách đầu tiên cần tiến hành là xây dựng và ban hành bản mô tả vị trí công việc của tất cả các cán bộ, công chức. Không thể có chuyện tuyển dụng vào mà không biết sẽ làm gì cụ thể, cũng không thể có chuyện tuyển dụng vào rồi làm việc gì cũng được. Với bản mô tả công việc rõ ràng cho mỗi chức danh, mỗi vị trí công việc, thì người nào đảm nhận chức danh, công việc nào sẽ phải làm hết tất cả các chức trách được giao.
Cải cách thứ hai là giảm bớt cấp phó. Nhiều nơi cấp phó còn đông hơn cả nhân viên thì sự chỉ đạo chồng chéo không chỉ gây khó cho cấp dưới mà còn vô hiệu hóa chế độ trách nhiệm.
Cải cách thứ ba là tăng cường chế độ thanh tra, kiểm tra công vụ. Đặc biệt, bổ sung chế định thanh tra công vụ là rất quan trọng.
Đối với chế độ trách nhiệm ở tầm chính trị, điều quan trọng là phải vận hành quyền bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội và hội đồng nhân dân hiệu quả hơn nữa. Trước hết, để làm được điều này, chỉ nên bỏ phiếu tín nhiệm theo hai mức là tín nhiệm và không tín nhiệm, mà không phải theo ba mức tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp như hiện nay. Đồng thời, việc bỏ phiếu tín nhiệm cũng cần được triển khai khi có sự việc gây thiệt hại nghiêm trọng xảy ra...
TS. NGUYỄN SĨ DŨNG
Vẫn nóng bỏng tính thời sự tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”
7:15' 26/10/2017
Tháng 10-1947, tại Việt Bắc với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc. Mục đích của tác phẩm là: Nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng và tình cảm cách mạng, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ, năng lực lãnh đạo đáp ứng các yêu cầu mới của cách mạng. Những nội dung của tác phẩm là những căn dặn thiết thực của Người đối với mỗi đảng viên, cán bộ ngày nay.


Về công tác cán bộ
Hồ Chí Minh khẳng định: Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Theo Người: Có cán bộ tốt, việc gì cũng xongNgay từ khi chính quyền cách mạng nhân dân được thành lập, Hồ Chí Minh đã mời những nhân sĩ, học giả, trí thức của xã hội cũ ra làm việc và tham gia vào công tác chính quyền. Tất cả những ai có chuyên môn, cần dùng vào lĩnh vực nào nếu có nhiệt tâm đều được trọng dụng. Đồng thời với đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ cần kiệm liêm chính, chí công vô tư làm công bộc cho dân, Hồ Chí Minh kêu gọi các ngành, các cấp và địa phương tìm và tiến cử nhân tài kiến quốc. Người nhắc nhở: Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự, văn hóa, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.
Đối với phẩm chất đạo đức của người cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh nêu ra 5 tiêu chí ngắn gọn, súc tích, tiêu biểu của người cán bộ đảng viên gồm: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Phẩm chất đạo đức trên đã thể hiện khái quát các mối quan hệ xã hội của người cán bộ, đảng viên với Tổ quốc, với nhân dân, với đoàn thể và cá nhân.
Việc chọn người và thay người cũng là một khâu quan trọng trong công tác lãnh đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chúng ta phải có kế hoạch, chính sách đối với cán bộ già, cán bộ trẻ. Già làm được việc gì thì giao việc ấy, không thì đối đãi thỏa đáng, cán bộ trẻ có tài, đức thì phải mạnh dạn đề bạt.
Về phương pháp làm việc và kiểm soát của người cán bộ lãnh đạo
Theo Hồ Chí Minh, cần áp dụng những phương pháp sau:
Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng. Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định nào, người lãnh đạo không được quan liêu mà phải căn cứ vào thực tế, nắm chắc hoàn cảnh để xem xét quyết định của mình có hợp lý không. Tiếp theo đó cần phải áp dụng hiểu biết của mình một cách năng động. Sau khi nắm rõ tình hình cần tổ chức bàn bạc một cách kịp thời và dân chủ trong tập thể lãnh đạo. Khi tập thể lãnh đạo đã hoàn toàn thống nhất ý kiến, người lãnh đạo chủ yếu cần phải có lòng tin và quyết đoán đưa ra quyết định cuối cùng.
Phải tổ chức thi hành cho đúng. Công việc khó đạt kết quả tốt nếu chỉ có một người lãnh đạo quyết định. Muốn việc tiến triển tốt và hiệu quả, người lãnh đạo cần tổ chức được lực lượng, đóng vai trò hạt nhân đoàn kết tạo nên sức mạnh thành công.
Phải tổ chức kiểm soát. Người căn dặn: Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành hay không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát, vì vậy người lãnh đạo phải kiểm tra, kiểm soát thường xuyên.
Về nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Bác chỉ rõ: Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ, lý luận cốt áp vào công việc thực tế, lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Người cán bộ phải ra sức học tập lý luận, đồng thời luôn luôn biết tổng kết kinh nghiệm trong công tác. Phê bình và tổng kết kinh nghiệm là quy luật phát triển của cách mạng.
Về phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng
Người căn dặn: Trước hết là nói, viết sao cho có hiệu quả để ai cũng dễ nghe, dễ hiểu. Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng đảng của các cấp.
Theo Hồ Chí Minh, sửa đổi lối làm việc sẽ giúp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn của đảng cầm quyền. Đội ngũ cán bộ, đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, đạt hiệu quả cao hơn.
70 năm đã trôi qua nhưng tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vẫn nóng hổi tính thời sự. Chúng ta đang tích cực thực hiện 2 nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII với nhiều nội dung về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên. Những nội dung trong tác phẩm của Bác là căn cứ để Đảng ta có những quyết sách đúng đắn, phù hợp, xây dựng Đảng vững mạnh, tiếp tục đưa nước ta ngày một phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Kế thừa những giá trị Cách mạng Tháng Mười Nga, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới
7:5' 31/10/2017
Lãnh tụ V.I.Lenin thuyết trình trước đông đảo nhân dân thành phố Pê-tơ-rô-gơ-rat..



Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã xóa bỏ các giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của những nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một loạt nước, như: Ba Lan, Bun-ga-ri, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc, An-ba-ni, Mông Cổ, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam đã tạo nên những tiền đề thực tế cho sự ra đời của một hệ thống xã hội mà trước đó chưa từng tồn tại trong lịch sử và chỉ một thời gian ngắn sau khi ra đời – hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã đóng vai trò chi phối với nhiều quá trình quan trọng của thế giới hiện đại.
1. Cách mạng Tháng Mười Nga đã chỉ ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đều bị thất bại vì không có đường lối cứu nước đúng đắn. Giữa lúc đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, sau gần 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã tiếp thu được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười. 

Tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc sớm nắm bắt được cốt lõi trong tư tưởng của V.I.Lênin: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại. Luận cương đã giải đáp cho Người về con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào Việt Nam mà Người đang kỳ công tìm kiếm. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đi đến nhận thức rõ ràng về con đường giải phóng dân tộc của Việt Nam. Người khẳng định rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế thời đại.
Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Đảng đã khẳng định đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.
Dưới ánh sáng soi đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả; tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Sau sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch đã và đang chống phá quyết liệt, mưu toan phủ nhận mọi thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga và nền tảng tư tưởng của cuộc cách mạng vĩ đại, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Những âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch trong nhiều thập kỷ qua càng làm nổi bật tầm vóc và ý nghĩa thời đại của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại.
2. Cách mạng Tháng Mười Nga khởi đầu sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và toàn diện của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã cổ vũ nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Cũng từ đó, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Liên Xô nảy nở, không ngừng được củng cố và phát triển.

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, đó là một nhân tố quốc tế không thể thiếu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiều mặt của Liên Xô, nhất là trong lĩnh vực củng cố quốc phòng - an ninh.

Những bài học kinh nghiệm chủ yếu của Cách mạng Tháng Mười Nga về vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản; về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; về thiết lập và củng cố khối liên minh công nông; về phương pháp bạo lực cách mạng; về xây dựng Nhà nước chuyên chính vô sản… đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

3. Trong giai đoạn hiện nay, cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp. Chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Nhận thức sâu sắc những nguyên nhân và bài học sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng ta đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt là: Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường đã chọn. Đó vừa là tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

4. Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam 87 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Nhân dân ta kiên định sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng và hướng tới là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, tất yếu phải trải qua nhiều chặng đường khó khăn, gian khổ với những bước đi, hình thức phù hợp trong suốt thời kỳ quá độ. Trước mắt cần thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, không ngừng học tập, nâng cao nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công gắn với việc triển khai thực hiện có hiệu quả ba nghị quyết Trung ương 5 (Khóa XII) về: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; Phát triển kinh tế tư nhân.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Dân vận tốt để giữ gìn và bảo vệ biên cương
Đồn Hoa Lư có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ đường biên giới hơn 18,4km, gồm 8 cột mốc chính và 28 cột mốc phụ thuộc 2 xã Lộc Hòa và Lộc Thạnh (Lộc Ninh). Đơn vị đứng chân trên địa bàn Lộc Hòa - xã có 1.438 hộ với 5.900 người, trong đó 43% là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), chủ yếu là dân tộc S’tiêng. Trình độ dân trí ở đây không đồng đều, đời sống đa số người dân còn khó khăn, phụ thuộc vào nông nghiệp và làm thuê. Lộc Hòa có 3 ấp (7, 8b và Suối Thôn) giáp biên, trong đó 100% hộ dân ấp Suối Thôn là đồng bào DTTS. Đồng bào ở đây có mối quan hệ thân tộc với nhân dân biên giới đối diện. Đường biên giới của đơn vị quản lý là đường biên giới bộ, thuận tiện cho việc đi lại giữa hai bên. Từ những yếu tố đó, Đồn Hoa Lư luôn chú trọng thực hiện tốt dân vận, làm cơ sở để đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Thời gian qua, Đồn Hoa Lư đã tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương, đồng thời trực tiếp tham gia củng cố cơ sở chính trị, giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh đạt nhiều kết quả tích cực. Bên cạnh thực hiện phương châm “3 bám, 4 cùng” (bám chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, bám dân, bám địa bàn; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào DTTS), cán bộ, chiến sĩ Đồn Hoa Lư cũng đặc biệt chú trọng nâng cao tuyên truyền vận động nhân dân. Đơn vị đã phối hợp cấp ủy, chính quyền cơ sở thành lập Câu lạc bộ phụ nữ phòng, chống tội phạm  ấp 7 và Câu lạc bộ phụ nữ DTTS tham gia bảo vệ biên giới ấp 8b. Thông qua các buổi sinh hoạt lồng ghép tuyên truyền Luật Biên giới quốc gia, Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị định số 34 của Chính phủ, các hiệp ước, hoạch định trên khu vực biên giới và hướng dẫn phụ nữ ăn ở, sinh hoạt hợp vệ sinh, phòng chống dịch bệnh. Từ đầu năm đến nay, đồn đã tổ chức tuyên truyền tập trung được 18 buổi với gần 700 lượt người nghe; tuyên truyền nhỏ lẻ đến 652 gia đình; tuyên truyền trên các cụm loa 74 giờ. Từ đầu năm đến nay, nhân dân đã cung cấp cho đơn vị 64 tin, trong đó 48 tin có giá trị. Theo số liệu thống kê của bộ phận nghiệp vụ Đồn Hoa Lư, 9 tháng qua, đơn vị đã phối hợp bắt và xử lý 50 vụ - 65 đối tượng vi phạm pháp luật trên khu vực biên giới; tịch thu gần 10 ngàn gói thuốc lá ngoại, 85.500kg đường cát trắng, gần 4.000m3 gỗ trắc và nhiều tang vật vi phạm khác.
Thời gian qua, bên cạnh thực hiện tốt phong trào “Bộ đội biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới”, đơn vị đã phối hợp các cấp, ngành, chính quyền cơ sở thực hiện tốt các chế độ chính sách, an sinh xã hội, tham gia giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục. Ngoài tổ chức lao động giúp dân phát quang, dọn dẹp đường giao thông nông thôn, sửa chữa nhà ở, khắc phục hậu quả thiên tai, đơn vị còn trích kinh phí nhận đỡ đầu 3 học sinh nghèo hiếu học trong chương trình “Nâng bước cho em tới trường” 500 ngàn đồng/em/tháng; nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng suốt đời với mức hỗ trợ 300 ngàn đồng/tháng. Từ chương trình “Hũ gạo tình thương”, mỗi tháng đơn vị tặng 40-50kg gạo cho 2 hộ nghèo trên địa bàn xã. Đồng thời tặng cây - con giống, phân bón và hỗ trợ khoa học - kỹ thuật; xây tặng nhà đại đoàn kết, tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo và gia đình chính sách trên địa bàn.
Đến thăm hộ anh Điểu Thêu ở ấp 8C, xã Lộc Hòa, chúng tôi vui mừng trước sự thay đổi của gia đình. Năm 2012, chúng tôi có dịp cùng cán bộ, chiến sĩ Đồn Hoa Lư giúp gia đình anh trồng cây cao su. Năm đó, gia đình anh còn là hộ nghèo, trong nhà không có tài sản giá trị. Đến nay, 400 cây cao su được Đồn Hoa Lư hỗ trợ bắt đầu cho thu hoạch. Gia đình anh hiện đã thoát nghèo. Điều đặc biệt hơn trong sự thay đổi, đó là từ chỗ rụt rè, ngại tiếp xúc giờ anh đã được người dân trong ấp tín nhiệm bầu làm Trưởng ấp. “Không có bộ đội biên phòng giúp đỡ cây giống, phân bón, ngày công, khoa học - kỹ thuật vào sản xuất có lẽ gia đình tôi không có ngày hôm nay. Giờ thì kinh tế ổn rồi. Không chỉ đủ ăn mà gia đình còn nuôi con ăn học đàng hoàng” - anh Điểu Thêu vui vẻ nói.
Ông Nguyễn Xuân Cường, Phó chủ tịch UBND xã Lộc Hòa cho biết: Những năm qua, Đồn Hoa Lư đã sát cánh, san sẻ khó khăn, vất vả với người dân địa bàn. Với sự đồng hành đó và chung tay của chính quyền cơ sở, đời sống nhân dân, đồng bào DTTS xã biên giới Lộc Hòa đã từng bước cải thiện rõ rệt.
Bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, thấm đẫm tính nhân văn, cán bộ, chiến sĩ Đồn Hoa Lư đã có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển chung của khu vực biên giới Lộc Ninh nói riêng và tỉnh Bình Phước nói chung. Những người lính biên phòng được nhân dân tin yêu, coi như người thân trong nhà. Nhân dân trở thành “tai mắt”, trở thành biên giới “mềm”, là “phên dậu” vững chắc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới.

Đoàn kết, lời căn dặn thiết tha của Bác 6:18' 11/3/2018 Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngoài cùng bên trái) với các đại biểu về dự Đại hộ...