Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Tổng Bí thư: Tập trung truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước.

"Tập trung lực lượng điều tra mở rộng vụ án xảy ra tại Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC); truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.
Đây là chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương vào hôm nay 17/4.
Theo đó,  Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã họp cho ý kiến về tiến độ, kết quả, khó khăn, vướng mắc trong xác minh, điều tra, truy tố, xét xử đối với các vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; Kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thanh tra các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế của Ban Chỉ đạo năm 2017 tại một số địa phương.
Phát biểu kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng- Trưởng Ban Chỉ đạọ đã hoan nghênh Đảng uỷ Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp chặt chẽ với Ban Nội chính Trung ương chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương nỗ lực, cố gắng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, nhất là đã khẩn trương xét xử sơ thẩm đối với 3 vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo theo Thông báo số 30-TB/BCĐTW của Ban Chỉ đạo, với các mức án nghiêm minh, được dư luận đồng tình ủng hộ (2 bị cáo án tử hình, 1 bị cáo tù chung thân, 10 bị cáo tù có thời hạn từ 20 tháng đến 24 năm tù); tích cực điều tra, khởi tố 11 bị can về các tội “Tham ô tài sản”, “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC), trong đó riêng Trịnh Xuân Thanh bị khởi tố về cả 2 tội; có nhiều cố gắng trong việc điều tra, xử lý giai đoạn II các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, nhất là giai đoạn II vụ án Phạm Công Danh và giai đoạn II vụ án Hà Văn Thắm.
Tổng Bí thư yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục nỗ lực, cố gắng, tích cực, chủ động trong phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh hơn nữa tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xác minh, xử lý các vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo.
Cụ thể: Khẩn trương điều tra bổ sung, truy tố, hoàn thành việc xét xử sơ thẩm 03/06 vụ án còn lại theo Thông báo số 30-TB/BCĐTW của Ban Chỉ đạo theo tiến độ đã được thống nhất tại Cuộc họp (Vụ án Hà Văn Thắm và đồng phạm, giai đoạn I; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm, phần Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ, yêu cầu điều tra, xét xử lại; vụ án Nguyễn Việt Hoàng và đồng phạm).
Tổng Bí thư cũng yêu cầu các cơ quan chức năng sớm kết thúc điều tra, xử lý giai đoạn II các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo theo tiến độ đã được thống nhất tại Cuộc họp. Tập trung lực lượng điều tra mở rộng vụ án xảy ra tại Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC); truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Tầm nhìn biển đảo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị tướng “khai quốc công thần” với những chiến công “truyền quốc sử” trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, vốn xuất thân là thầy giáo dạy sử - địa. Ông hiểu sâu sắc tầm quan trọng chiến lược của biển đảo quê hương cả về quốc phòng và kinh tế.
Trong bài viết lược thuật này, chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những chỉ đạo chiến lược của Đại tướng trong giải phóng, xây dựng và bảo vệ biển, đảo Việt Nam. Tư liệu trong bài được lấy chủ yếu từ sách “Võ Nguyên Giáp - hào khí trăm năm” do NXB Trẻ phát hành.

Tầm nhìn trong giải phóng các đảo ở Biển Đông

Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột tháng 3/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ nhìn ra thời cơ chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam mà ông còn nghĩ ngay đến việc giải phóng các hòn đảo trên Biển Đông. Đại tướng đã kiến nghị với Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25/3/1975.

Cũng từ ngày ấy, Quân ủy Trung ương điều đồng chí Hoàng Trà, Chính ủy Quân chủng Hải quân về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng yêu cầu Bộ Tổng tham mưu và Bộ Ngoại giao cung cấp tài liệu về tình hình biển đảo, chỉ đạo Cục Quân báo nắm tình hình quân ngụy ở Biển Đông để có kế hoạch giải phóng kịp thời.

Khó khăn của ta lúc bấy giờ là lực lượng hải quân còn nhỏ bé, làm thế nào để hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ trên biển là thách thức lớn. Ngày 2/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ thị cho đồng chí Lê Trọng Tấn: Phải nắm lực lượng ở Khu 5 và Hải quân để tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa.
 
tam nhin 1Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát Bộ đội Hải quân diễn tập năm 1964. Ảnh tư liệu
Lúc này, ở khu vực Trường Sa có Hạm đội 7 của Mỹ và nhiều nước khác hoạt động. Hải quân ngụy cũng được trang bị tàu lớn. Do đó, đòi hỏi khâu tiến công phải hết sức mưu trí, sáng tạo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu điều ngay Sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh Hải quân vào Đà Nẵng, tham gia tiếp quản căn cứ hải quân ngụy mà ta vừa giải phóng, chuẩn bị sẵn sàng để giải phóng các đảo. Lệnh của Tổng tư lệnh rất rõ ràng: Khi thấy quân ngụy Sài Gòn nguy khốn thì lập tức tổ chức đánh chiếm các đảo. Trường hợp nước ngoài thừa cơ quân ngụy khốn đốn mà đã chiếm đảo, thì ta kiên quyết chiếm lại, gặp khó khăn gì phải báo cáo Tổng hành dinh.
Trước đó, ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương đã điện cho các đồng chí Chu Huy Mân và Võ Chí Công: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo, thực hiện gấp rút nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam”.

Ngày 9/4/1975, quân báo thông báo quân ngụy bắt đầu rút khỏi Biển Đông, Quân ủy Trung ương đã điện tối khẩn cho đồng chí Chu Huy Mân và đồng chí Võ Chí Công: “Có tin quân ngụy chuẩn bị rút khỏi Trường Sa. Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước đang có ý đồ xâm chiếm”.

Nhận được lệnh, các tàu hải quân và lực lượng thuộc Khu 5 đã giả danh tàu đánh cá, xuất phát ra Trường Sa. Lực lượng ta đã đánh bằng cách của mình, dùng đặc công bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ chiếm mục tiêu, lần lượt giải phóng các đảo. Ngày 14/4/1975, chỉ sau hơn một giờ chiến đấu, quân ta giải phóng đảo Song Tử Tây. Sau đó, lần lượt các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn… đều được giải phóng. Ngày 28/4/1975, đảo An Bang được thu hồi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng Trường Sa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký điện khen: “Nhiệt liệt khen ngợi các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược”.
Mở đường làm kinh tế biển

Năm 1977, trên cương vị Phó thủ tướng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất một chiến lược về khoa học biển và kinh tế miền biển rất ấn tượng. Nói chuyện với các nhà khoa học, Đại tướng nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu trong hiểu biết về biển cả, để góp phần thúc đẩy việc khai thác tốt hơn những nguồn lợi mà biển cả sẽ đem lại cho đất nước ta”.
Về hướng khai thác kinh tế biển, Đại tướng chỉ ra những vấn đề vượt thời gian: “Việc khai thác dầu khí ngoài biển Việt Nam đã là chuyện trước mắt. Việc sử dụng năng lượng thủy triều ở bờ biển nước ta cũng phải đặt ra rồi. Độ chênh lệch của thủy triều nước ta chứa đựng một tiềm năng quan trọng về năng lượng là rất quý. Có thể có những kiểu máy điện thủy triều được không? Các đồng chí vật lý biển phải trả lời vấn đề này, ngành cơ khí phải đi trước một bước”… “Ngành sinh học biển phải đi sâu, thúc đẩy phương hướng kinh tế này. Cần phải từ đặc điểm của từng vùng biển có những điều kiện vật lý như nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng chiếu xuống như thế nào, rồi áp suất sóng, thủy động lực, dòng chảy như thế nào, để kết luận xem những vùng nào nuôi được loại cá nào là thích hợp nhất”…

Trong chỉ đạo phát triển kinh tế biển, ngay từ năm 1977, Đại tướng đã có những chỉ đạo chiến lược rất sâu sắc: Kinh tế vùng biển phải từ đất liền mà phát triển ra biển và các hải đảo. Đưa dân ra làm kinh tế biển đảo, vừa cải thiện được đời sống của dân, vừa có lực lượng để thực hiện quốc phòng toàn dân, để giữ vững chủ quyền biển, đảo.

Năm 1985, trước khi có Đổi mới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề ra Chiến lược làm chủ biển với nội dung toàn diện và cụ thể. Cho đến nay, những vấn đề đặt ra trong chiến lược này vẫn nóng hổi tính thời sự. Chiến lược này là minh chứng lịch sử làm sáng rõ tư duy khoa học và tầm nhìn chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về biển, đảo Tổ quốc.
Theo Quân đội nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
      Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.
        Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng.
- Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những điểm sau:
        Một là, trung với nước hiếu với dân.
         Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác.
Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thống của xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.
“Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
         Hai là, yêu thương con người.
       Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái... không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người.
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời".
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.
        Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. - Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".
       Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
       Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá".
       Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.  Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.  Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.
       Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc". “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".
           Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản đều là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc.
       Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, hơn nữa phải là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản để định hướng sự lãnh đạo của Đảng và việc rèn luyện của mỗi người.
+ Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.
Cán bộ đảng viên phải đầu tầu gương mẫu “miệng nói tay làm”, phải nêu tấm gương đạo đức cách mạng trước quần chúng; cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Sống theo phương châm “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Cổ vũ “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiêu biểu.
+ Xây đi đôi với chống.
Xây dựng nền đạo đức cách mạng, giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, khơi dậy ý thức tự giác, đạo đức lành mạnh ở mọi người, hướng mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch, lành mạnh về đạo đức. Nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân - nguồn gốc của mọi thứ tệ nạn, thứ giặc “nội xâm” phá từ trong ra.
+ Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
         Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".
Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người. Tinh thần này đã được thể hiện trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa".
Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.
Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, bên cạnh việc xây dựng những phẩm chất đạo đức. Trung với nước, hiếu với dân, thương người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng nêu trong di sản của Người, chúng ta còn phải đấu tranh quyết liệt chống các tệ nạn xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường đang làm phương hại đến nền đạo đức cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã sớm nhận ra sự nguy hiểm của bệnh "cá nhân", đó là nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ.
Ngay từ năm 1952, Người đã nêu rõ những tệ nạn cần phải chống gồm ba loại hình là tham ô, lãng phí quan liêu. Người coi những tệ nạn đó là tội ác, là kẻ thù khá nguy hiểm của nhân dân, là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến, là thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” phá từ trong phá ra. Người đã chỉ rõ tội lỗi của những kẻ tham ô, lãng phí quan liêu cũng nặng như tội lỗi "Việt gian, mật thám". Người cho rằng: "Việc tranh đấu với kẻ địch ở tiền tuyến bằng súng, bằng gươm còn dễ, nhưng việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót".
Cuộc sống đang đòi hỏi phải làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh đời sống đạo đức của xã hội. Hai mặt đó phải tiến hành song song. Phải khắc phục các nguyên nhân đẻ ra các tệ nạn tiêu cực; càng phải khắc phục nguyên nhân đã để cho các tệ nạn tiêu cực phát triển. Trong cuộc đấu tranh này, phải lấy việc xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt, như đã được nêu ra trong nhiều nghị quyết của Đảng.
Chúng ta càng thấm thía lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn “Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” .
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vẫn còn giữ nguyên tính thời sự, soi sáng cho Đảng và nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp vẻ vang, xây dựng nền đạo đức Việt Nam ngang tầm với những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. 

Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017

Trung tướng Nguyễn QuốcThước nói về cuộc chiến Gạc Ma 14-3-1988

Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, về cuộc chiến đấu bi hùng này. 
“Thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho biển, đảo”
. Phóng viên: Ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đã xua quân đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam. Đã 29 năm trôi qua, thưa Trung tướng, ông nhìn nhận gì về sự kiện này?
+ Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Đây là một cuộc chiến bi hùng của 64 chiến sĩ đối với sự nghiệp bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Chúng ta phải xem cuộc chiến ở Gạc Ma là biểu tượng của lòng yêu nước; của sự dũng cảm, bất khuất, kiên gan, là sự hy sinh vô bờ bến trong cuộc chiến bảo vệ đảo - chúng ta thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ biển, đảo của mình!
Đây cũng là một cuộc chiến mà chúng ta chưa bao giờ nghĩ đến, nhất là khi Trung Quốc là người anh em, núi liền núi, sông liền sông lại có thể đem quân chiếm đảo Gạc Ma, nổ súng tấn công khiến 64 chiến sĩ chúng ta hy sinh. Nhất là khi sự kiện này xảy ra không lâu sau chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam…
Tướng  Thước nói về cuộc chiến Gạc Ma 14-3-1988 - ảnh 1
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: "Bài học rất quan trọng là chúng ta không được ngủ quên trong hòa bình". Ảnh: CTV
. Từ chiến tranh biên giới phía Bắc, đến sự kiện Gạc Ma, ở góc nhìn của một nhà quân sự, theo Trung tướng chúng ta cần phải rút ra những bài học lớn nào?
Bài học rất quan trọng là chúng ta không được ngủ quên trong hòa bình. Bởi cảnh giác trước các mưu đồ luôn luôn là bài học quan trọng nhất sau cuộc chiến Gạc Ma.
Đồng thời, cùng với phát triển kinh tế, chúng ta không được bao giờ để quên nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần phải tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh từ hải quân, không quân, tên lửa, tàu ngầm,… để  không bị động trước bất kỳ sự toan tính nào của các thế lực đang mưu đồ xâm lấn biển, đảo của chúng ta.
Đưa cuộc chiến Gạc Ma vào sách giao khoa
. Thưa Trung tướng, làm thế nào để giáo dục thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc về cuộc chiến này để từ đó hun đúc thêm lòng yêu nước, ý chí kiên quyết bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc?
+ Muốn hay không muốn thì lịch sử  là lịch sử, không thể khác được!
Tôn trọng sự thật lịch sử và nhìn lại lịch sử là để nhắc nhớ chúng ta những bài học kinh nghiệm trong bảo vệ chủ quyền biển đảo; nâng cao cảnh giác trước các thế lực thù địch và giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu sâu sắc về sự hy sinh anh dũng của ông cha ta để bảo vệ từng tấc chủ quyền của Tổ quốc.
Để giáo dục giới trẻ hiểu sâu sắc hơn về sự hy sinh của cha ông để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước, tôi nghĩ cần phải đưa cuộc chiến Gạc Ma, cũng như sự kiện chiến tranh biên giới phía Bắc vào trong sách giáo khoa với dung lượng lớn hơn nữa. Đồng thời có nhiều kênh thông tin hơn để giúp các thế hệ trẻ hiểu biết nhiều hơn về những trang sử bi hùng của dân tộc, nhắc con cháu chúng ta luôn luôn ý thức bảo vệ chủ quyền Tổ quốc mình.
.Trước hành động ngang ngược của Trung Quốc trên biển đông suốt thời gian qua, chúng ta cần có bước đi cụ thể gì để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thưa Trung tướng?
+ Chúng ta vẫn phải kiên trì với con đường đấu tranh hòa bình nhưng phải là đấu tranh quyết liệt bằng các biện pháp pháp lý, bằng sự lên án của cộng đồng quốc tế.
Việt Nam phải kiên quyết lên tiếng vì Hoàng Sa, Trường Sa là chủ quyền lãnh thổ hợp pháp và thiêng liêng của chúng ta. 
Điều cốt lõi là cả dân tộc Việt Nam, không phải chỉ nói lời mà phải bằng hành động cụ thể, mọi người đều phải thấy rằng Hoàng Sa, Trường Sa chính là tồn vong của đất nước. Ý thức chủ quyền phải luôn được gìn giữ, bởi phải nhận thức rằng việc đòi lại các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm là cả một hành trình dài của dân tộc và đừng bao giờ chán nản vì điều đó.
Chúng ta phải ghi nhớ rằng một ngàn năm Bắc thuộc trước đây, tổ tiên ta ngày xưa, cô độc như vậy, đói khổ như vậy, lạc hậu như vậy mà một ngàn năm vẫn không bị đồng hóa, dám kiên trì đấu tranh để giành lại độc lập. Không có lý do gì chúng ta lại không đứng vững trong “cuộc chiến” trường kỳ này.
Bối cảnh quốc tế hiện nay đã có nhiều thay đổi, thế giới là một mái nhà chung. Việt Nam cần phải đoàn kết với các nước trên thế giới, đồng lòng, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi các hành động đe dọa từ bất cứ thế lực nào.
. Xin cảm ơn Trung tướng.

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

Cảnh báo của Bác Hồ về sự suy thoái của cán bộ, đảng viên
7:25' 11/1/2017
Những cảnh báo của Bác Hồ chỉ ra trước đây về các “căn bệnh” mà cán bộ, đảng viên nhiễm phải so với những biểu hiện về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra hoàn toàn trùng khớp, có chăng chỉ khác nhau về tính chất, mức độ, phạm vi, đối tượng... mà thôi. Bác chỉ rõ: “Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do so sánh, mà họ biết rõ ràng”; “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”. Chỉ dẫn của Bác chính là một trong những giải pháp mà Nghị quyết đã đề cập cần triệt để thi hành.


Tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chính phủ ta là một Chính phủ làm đày tớ của nhân dân, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Nếu ai ở trong Chính phủ mà muốn làm quan thì không ở được trong Chính phủ ta. Bác nói như thế là chẳng những trong Chính phủ Trung ương mà cả chính phủ địa phương cho đến các ủy ban hành chính xã, nếu ai muốn làm quan thì mời đi làm quan chứ không được ở trong chính quyền của ta”.
Đây không phải là lần đầu tiên Bác Hồ nói về Chính phủ là “công bộc” của dân. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Bác đã chỉ ra 22 điểm cần có trong “tư cách một người cách mệnh” mà nòng cốt là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu cưỡi cổ dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Sau đó không lâu, ngày 20-2-1947, tại buổi nói chuyện với các đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Bác Hồ tiếp tục yêu cầu: “Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Đảng ta ra đời và lãnh đạo nhân dân giành chính quyền cho dân. Dân giao chính quyền đó cho người đại diện của mình là các tổ chức, chính quyền, cán bộ, đảng viên. Những cán bộ có phẩm chất, năng lực được đông đảo nhân dân tín nhiệm bầu vào Ủy ban nhân dân làng, sau đó được bầu vào Quốc hội, Chính phủ Trung ương và “chính phủ” địa phương. Trong bài “Chính phủ là công bộc của dân” (19-9-1945), Bác yêu cầu “bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế độ cũ, của các hội đồng kỳ mục trước sẽ không thể tồn tại trong các ủy ban nhân dân bây giờ”. Tuy nhiên, khi cách mạng đã thành công, chính quyền về tay nhân dân, nhưng một số “căn bệnh” của quan lại phong kiến vẫn nhiễm vào đầu óc không ít cán bộ, đảng viên chúng ta và trở thành “khuyết điểm to”. Đó “khuynh hướng chật hẹp và bao biện”, “lạm dụng hình phạt”, “hủ hóa”, “kéo bè kéo cánh”, “kiêu ngạo”... Ngày 1-3-1947, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Bác đã nêu tám khuyết điểm “phải kiên quyết tẩy sạch”. Đó là: “Địa phương chủ nghĩa”; "Óc bè phái”; “Óc quân phiệt quan liêu” (khi phụ trách một vùng nào thì như một ông “vua con”); “Óc hẹp hòi”; “Ham chuộng hình thức”; “Làm việc lối bàn giấy”; “Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”; “Ích kỷ, hủ hóa”. Tháng 10-1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với bút danh X.Y.Z, Bác Hồ đã chỉ ra những khuyết điểm phát triển thành “căn bệnh rất nguy hiểm” mà cán bộ, đảng viên còn mắc phải. Theo Người, có thể xếp vào ba loại: “Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan. Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng và ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi. Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa”. Ba “chứng bệnh nguy hiểm” này nếu không chữa ngay để nó lây ra, thì có hại vô cùng.  Đặc biệt, ngay từ thời gian này, Bác Hồ phân tích một cách sâu sắc rằng: “Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải sửa chữa hết những chứng bệnh đó”. Điều đáng chú ý là, những chứng bệnh này là bước phát triển tất nhiên của những chứng bệnh cũ. Đó là các: “Bệnh nể nang”; “Bệnh tham lam”, “Bệnh lười biếng”, “Bệnh kiêu ngạo”; “Bệnh hiếu danh”; “Bệnh thiếu kỷ luật”; “Óc hẹp hòi”; “Óc lãnh tụ”; “Bệnh hữu danh vô thực”; “Bệnh kéo bè kéo cánh”; “Bệnh cận thị” (không nhìn xa thấy rộng); “Bệnh tị nạnh”; “Bệnh xu nịnh, a dua”... Những chứng bệnh trên bắt nguồn từ “Bệnh cá nhân”, mọi suy nghĩ việc làm đều xuất phát từ lợi ích cá nhân và đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết. Tất cả đều vì cá nhân, vì gia đình mình, vì phe nhóm mình. Bác khẳng định: Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”. Người căn dặn “chúng ta phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”.
Sau này, Bác Hồ cũng đã chỉ ra một số “căn bệnh” mà cán bộ, đảng viên mắc phải, nhưng Người chỉ rõ các căn bệnh này thuộc phạm trù “chủ nghĩa”. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, viết nhân dịp 39 năm ngày Đảng ta ra đời (3-2-1969), Người đã khái quát: “Còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn rất kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa (...) tham danh trục lợi, thích địa vị, quyền hành (...), tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem kinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh (...) mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”.
Những cảnh báo của Bác Hồ chỉ ra trước đây về các “căn bệnh” mà cán bộ, đảng viên nhiễm phải so với những biểu hiện về sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên hiện nay mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra thì hoàn toàn trùng khớp, có chăng chỉ khác nhau về tính chất, mức độ, phạm vi, đối tượng...mà thôi.
Trong Nghị quyết lần này, trên cơ sở chỉ ra những biểu hiện suy thoái, chỉ ra nguyên nhân, rất nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, cụ thể đã được Trung ương đề ra mà  trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Có một vấn đề rất cần được nghiên cứu, hết sức coi trọng. Đó là vai trò của quần chúng, nhân dân trực tiếp kiểm tra, giám sát, góp ý cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm, coi trọng; chưa thật sự dựa vào dân cũng như phát huy sức mạnh của người dân trong công tác xây dựng đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ lâu, Bác Hồ chỉ rõ: “Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do so sánh, mà họ biết rõ ràng”; “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”. Chỉ dẫn của Bác Hồ chính là một trong những giải pháp mà Nghị quyết đã đề cập cần triệt để thi hành.
Vũ Bình Minh
Tham nhũng, chống tham nhũng - xưa và nay
9:52' 25/12/2016



Nói đến tham nhũng và chống tham nhũng thì ai cũng biết đó là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tiến hành tranh đấu bằng nhiều biện pháp, đặc biệt là bằng tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nêu rõ, nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
Thực ra từ ngày xưa con người đã phải đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng cũng không kém phần cam go và quyết liệt. Việc đó, được thể hiện qua các câu truyền khẩu trong dân gian:
                                          “…- Trống chèo ai đánh thì thùng
                                                 Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng
- Tiền vào cửa quan như than vào lò
- Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ
- Mèo tha miếng thịt xôn xao
  kễnh tha con lợn thì nào thấy chi!
- Nén bạc đâm toạc tờ giấy
                                                 - Con ơi nhớ lấy câu này:
                                                  Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan…”                         
        
Quan liêu, tham nhũng là hiện tượng xã hội thuộc phạm trù lịch sử, gắn liền với sự ra đời của nhà nước và quyền lực nhà nước. Đúng như câu nói rất chí lý của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”.
Từ thời Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) đã có nhiều bài thơ chống tham nhũng (2). Như bài “Cảm đề” đăng trên An Nam tạp chí số 9 năm 1927:
                                      “ Thái Bình chưa dứt tiếng kêu than
                                         Lại tiếp kêu trời ở Nghệ An
                                         Một phủ Anh Sơn trong mấy tháng
                                         Mà tay Phan Tứ lấy ba ngàn
                                         Cũng phường dối nước, quân ăn cắp
                                         Cũng lũ tàn dân, giống hại dân
                                         Lạnh lẽo hơi sương tòa tạp chí
                                         Lệ ai giàn giụa với giang san!”
Chuyện cổ dân gian Việt nam từng kể: Có ông quan tuổi Tý, ngày sinh nhật, hạ cấp mừng thọ con chuột bằng vàng. Bà vợ quan đay nghiến chồng, sao ông không bảo là tuổi Sửu, để được đút lót con trâu bằng vàng, có phải là được nhiều và lớn hơn không!
Lịch sử tiền phong kiến, ngay từ cổ đại cũng đã cho thấy rõ việc tham nhũng và chống tham nhũng. Thời Đông Chu, trong chiến tranh Ngô (Phù Sai) - Việt (Câu Tiễn) đã có chuyện đút lót hối lộ giữa Ngũ Tử Tư và Phạm Lãi mà của đút lót là nàng Tây Thi, nguyên cớ làm cho nước Ngô sụp đổ tan tành.
Dưới các triều đại phong kiến ở khắp nơi trên thế giới, không thiếu những ví dụ điển hình về tệ nạn tham nhũng. Thời phong kiến thịnh trị ở triều đại nhà Thanh vẫn nảy nòi những Tể tướng Hòa Khôn, ăn của đút lót, tham nhũng không tả xiết. Đến nỗi, cuối đời vua Gia Khánh (con vua Càn Long), phát giác, tài sản bị niêm phong. Tiền bạc của riêng mình ông ta xấp xỉ bằng nửa ngân khố quốc gia. Giàu có nghiêng trời, lệch đất. Nhà cửa, dinh thự không phải xây bằng gạch và vôi vữa mà được xây toàn bằng vàng khối, vàng ròng.
Tham nhũng vắt qua, chạy dài theo lịch sử loài người, ở nơi nào cũng có, dù ở mức độ khác nhau. Không chỉ các nước tư bản mà ta đã biết, xã hội chủ nghĩa, nét đặc trưng, là nền kinh tế kế hoạch hóa, nạn tham nhũng cũng đâu có ít. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, chúng ta buộc phải chấp nhận một sự thật đau lòng, quan liêu, tham nhũng là một trong những nguyên nhân đục ruỗng nhà nước, dẫn đến tan rã không thể cứu vãn.
Tham nhũng (biểu hiện dưới các hình thức ăn cắp, hối lộ - nhận hối lộ, đút lót - nhận đút lót, trốn thuế…), tựu trung lại đều nằm ở hai hình thức:
Thứ nhất: Tham nhũng bằng các quan hệ kinh tế (vật chất, tiền bạc, của quý quy ra tiền bạc) do những tổ chức, cá nhân hoạt động kinh tế gây ra. Loại tham nhũng này xảy ra phổ biến ở mọi thời kỳ kinh tế.
Thứ hai: Tham nhũng bằng quyền lực và kết hợp kinh tế với quyền lực. Đây là loại tham nhũng nguy hiểm và tai hại nhất. Loại tham nhũng này xảy ra khi đã có nhà nước. Nhà nước ở trình độ phát triển cao cũng chưa ngăn chặn được mà chỉ hạn chế ở những nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh. Cách đây hơn 2.500 năm, Lã Bất Vi, người tạo dựng nên nhà Tần, nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc đã thực hiện hoàn hảo hình thức tham nhũng kết hợp (cấu kết) giữa tham nhũng bằng các quan hệ kinh tế và quyền lực, để lại bài học nằm lòng cho những kẻ tham nhũng hậu sinh.
Lã Bất Vi là một nhà buôn lớn ở Dương Định, đi lại, mua rẻ, bán đắt, trong nhà có hàng nghìn cân vàng. Bố ông ta hỏi buôn gì? Lã Bất Vi trả lời: “Buôn vàng”. Ông bố lại hỏi: “Buôn gì giàu nhất”? Lã Bất Vi bảo: “Buôn Vua”. Thế là ông ta dựng cơ nghiệp cho Tử Sở đang long đong phiêu bạt làm con tin ở nước ngoài, bằng cách chu cấp tiền bạc và dâng người thiếp yêu của mình đã có mang trong bụng cho ông vua tương lai của nhà Tần, để rồi ông ta thành Tể tướng. Đến khi con ông ta (Từ Sở tưởng là con mình) lên ngôi vua thì ông ta trở thành Tướng quốc - Trọng phụ, thu tóm mọi quyền hành và tài sản quốc gia. Buôn Vua, thực chất là buôn quyền lực.
Một khi kinh tế kết hợp với quyền lực thì sẽ trở thành sức mạnh vô địch, phá hủy mọi thể chế nhà nước. Cũng chính vì vậy mà những vụ án lớn ở nước ta bị phát hiện trong thời gian đã qua: Vụ Năm Cam có bóng dáng của công an, viện kiểm sát, báo chí, tòa án. Vụ Dầu khí có bóng dáng của thanh tra nhà nước. Vụ MPU 18 cho thấy tổ hợp chạy tiền, chạy chức quyền, hối lộ quy mô lớn. Mới đây nhất là vụ Trịnh Xuân Thanh càng thấy rõ điều này. Không chỉ dính dáng tới một số cán bộ có chức, quyền ở Trung ương như Bộ Công thương, Bộ Nội vụ mà cả một số quan chức địa phương như tỉnh Hậu Giang…
Chống tham nhũng xưa và nay, khác chăng là ngày nay chúng ta có sự lãnh đạo kiên định của Đảng, nhận diện tham nhũng như quốc nạn. Công tác phòng chống tham nhũng đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt chú trọng, đề ra nhiều giải pháp, coi đó là nhiệm vụ trọng yếu và cấp bách. Vì thế, thời gian qua nhiều vụ án tham nhũng lớn, nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình ủng hộ và ngày càng tin tưởng vào cuộc chiến “diệt giặc nội xâm” này, tham nhũng sẽ được ngăn chặn và đẩy lùi
Phạm Tài NguyênNguyên Trưởng Ban nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam
Nhận dạng một số biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" trong nhận thức và học tập lý luận chính trị hiện nay
7:30' 14/2/2017



Từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, từ lãnh đạo cao cấp nhất đến lãnh đạo cơ sở, đồng thời, đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ kế cận của Đảng là thanh niên, sinh viên và học sinh. Đảng ta đã ban hành văn bản quy định về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, quy định về xác định trình độ lý luận chính trị và nhiều văn bản khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; các học viện khu vực; hệ thống trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; các trường đại học, cao đẳng… có những đổi mới về nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên. Hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị luôn được đổi mới, cập nhật ngày càng đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của thực tiễn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Trong 30 năm đổi mới, đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao nhận thức về lý luận chính trị, rèn luyện đạo đức lối sống, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, một số cán bộ, đảng viên có nhận thức lệch lạc, chưa coi trọng việc học tập, rèn luyện nên chất lượng chính trị thấp, một bộ phận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Qua một số kỳ đại hội của Đảng gần đây đã khẳng định điều đó, như Đảng ta đã đưa ra 4 nguy cơ trong Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, trong đó nhấn mạnh tới nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 đưa ra nhiệm vụ phải nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ, đảng viên, trong đó nhấn mạnh: “… Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, cũng là biểu hiện của sự thoái hóa”. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX năm 2001: Toàn Đảng nghiêm túc học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Các cấp ủy và chi bộ tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra đảng viên học tập, rèn luyện, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo quản lý và công tác vận động nhân dân, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu. Xây dựng, chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp; chống các biểu hiện tiêu cực trong giảng dạy và học tập. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) cho rằng, cần: Thực hiện nghiêm túc các quy định đánh giá kết quả học tập; gắn việc đào tạo, bồi dưỡng với việc bố trí, sử dụng cán bộ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) năm 2007 “về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” đánh giá hạn chế, khuyết điểm, đó là: “... Chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”. Đại hội XI của Đảng đánh giá: Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng có đổi mới. Coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tuy nhiên: “Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”.
Đại hội XI cũng tập trung nhấn mạnh những hạn chế yếu kém của công tác xây dựng đảng, trong đó có nguyên nhân từ hạn chế của công tác giáo dục lý luận chính trị dẫn đến sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Triển khai Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã ban hành Kế hoạch xây dựng chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho các đối tượng từ đảng viên cao cấp tới đảng viên thường.
Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng… Đặc biệt là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đã thảo luận và đưa ra biểu hiện về suy thoái tư tưởng chính trị trong nhận thức và học tập lý luận chính trị là: Nhận thức không đúng đắn về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị, xem thường lý luận, lười học Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng.
Trong lĩnh vực giáo dục lý luận chính trị, tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những biểu hiện chủ yếu sau đây:
1. Biểu hiện ở mục đích, động cơ, thái độ trong học tập lý luận chính trị
Một là, quan niệm cho rằng cán bộ chỉ cần giỏi chuyên môn, coi nhẹ học lý luận chính trị. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, biểu hiện này xuất hiện ở một bộ phận học sinh, sinh viên, kể cả một bộ phận quản lý giáo dục có thái độ coi nhẹ việc học những môn giáo dục công dân, các môn khoa học xã hội và nhân văn. Trong hệ thống cán bộ, công chức, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, không am hiểu thực tiễn; ngại học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.  
Hai là, biểu hiện sai lệch về động cơ vào Đảng. Một bộ phận thanh niên bị sai lệch về mục đích phấn đấu trở thành đảng viên, vào đảng để có việc làm, để được phát triển lên vị trí này, vị trí khác, nên học tập lý luận chính trị qua loa, cốt lấy chứng nhận đã học qua chương trình đối tượng Đảng, chương trình lớp đảng viên mới.
Ba là, học lý luận chính trị để trang trí, hoàn thiện điều kiện cho mục đích khác. Một bộ phận cán bộ, đảng viên học tập lý luận chính trị cốt lấy chứng nhận trình độ lý luận chính trị để thi nâng ngạch lương, quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ. Số khác cho rằng, đã đầy đủ văn bằng, chứng chỉ điều kiện thì không tự học, tự bồi dưỡng, tự đào tạo rèn luyện nên trình độ lý luận chính trị ngày càng mai một, lạc hậu so với yêu cầu của thực tiễn.
Bốn là, trong học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, một số cán bộ, đảng viên, chưa coi trọng việc nghiên cứu sâu, học qua loa, đại khái, “học cho xong”, nên trong quá trình chỉ đạo triển khai, trực tiếp triển khai  nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng khó vào thực tiễn hoặc bị sai lệch trong thực tế.
Học tập và làm theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh ở một số nơi hiệu quả chưa như mong muốn, vẫn còn hình thức, nhất là khâu làm theo. Thực tế này do hạn chế trước hết ở khâu nhận thức, không thấy rõ ý nghĩa sâu sắc, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó, không nghiên cứu sâu, nắm vững các nội dung trong tư tưởng của Bác về những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam và ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với thực tiễn đất nước hiện nay.
2. Nhận thức sai lệch về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về đảng Cộng sản và vai trò lãnh đạo của đảng; công cuộc đổi mới; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quan điểm của đảng về văn hóa; dân tộc, tôn giáo; quốc phòng, an ninh; hội nhập quốc tế…
Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã tham gia học lý luận chính trị, nhưng do thiếu ý thức trong học tập, nắm không sâu, hiểu không chắc, thậm chí mơ hồ, hời hợt nên có biểu hiện không tin vào con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, cho rằng, làm gì có chủ nghĩa xã hội; hoặc có nhưng còn rất lâu. Một bộ phận cán bộ, đảng viên cho rằng nước ta nên lựa chọn con đường phát triển khác, nhất là ca ngợi mô hình xã hội dân chủ và cho rằng, nước ta nên đi theo mô hình xã hội này, từ đó đồng nghĩa với việc từ bỏ con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Một dạng ý kiến cho rằng, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là trái với tự nhiên, là duy ý chí.
Thứ hai, trong thời gian đầu những năm đổi mới, nhiều quan điểm đổi mới của Đảng cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, đầy đủ, nhưng do thiếu ý thức học tập một cách nghiêm túc, cho nên một bộ phận cán bộ, đảng viên đã có nhận thức chưa đầy đủ, bị cuốn theo những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, nên đã có biểu hiện nghi ngờ về công cuộc đổi mới, cho rằng chúng ta đi theo tư bản chủ nghĩa do áp dụng kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền.
Thứ ba, cũng do việc nghiên cứu, học tập không đến nơi đến chốn, bị tác động của mặt trái cơ chế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, dập khuôn máy móc theo các mô hình của nước ngoài, một biểu hiện khác ngay cả những cán bộ, đảng viên đã học tập lý luận chính trị và thậm chí có những người học rất cao có những phát ngôn hoặc có những bài viết đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng trong  Điều 4 Hiến pháp, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, cho rằng một đảng sẽ dẫn đến độc quyền, độc tài, làm chậm sự phát triển; phủ nhận quan điểm kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo hoặc đánh đồng kinh tế nhà nước với doanh nghiệp nhà nước và từ những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước để phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Biểu hiện suy thoái rõ nét nhất trong nhận thức và học tập quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước hoặc tách rời mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, cho rằng cần áp dụng tam quyền phân lập vào xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Thứ tư, một số biểu hiện khác như phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội, công an, đòi phi chính trị hóa quân đội, công an; trong quan hệ quốc tế do chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm của Đảng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, nhất là quan điểm về đối tác, đối tượng nên có thái độ muốn ngả về bên này, bên kia, liên minh với bên này, bên khác. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn phụ họa cho các quan điểm dân chủ tư sản, tự do tư sản, cho rằng Việt Nam không có dân chủ; không có tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo,…
3. Biểu hiện nghi ngờ, phủ nhận nền tảng tư tưởng của đảng
Việc triển khai học tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực hiện sâu rộng trong tất cả các cấp học, bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, đoàn thể... Bên cạnh những kết quả đạt được không thể phủ nhận, vẫn có tình trạng nghiên cứu, học tập chiếu lệ, qua loa đại khái, không đủ nền kiến thức cơ bản để cắt nghĩa, lý giải một cách thuyết phục những vấn đề đặt ra từ thực tiễn hoặc có khả năng đề kháng trước những luận điệu xuyên tạc, nói xấu của các thế lực thù địch, cơ hội. Tình trạng học chay, không nghiên cứu tài liệu, học vì động cơ, mục đích không rõ ràng, chương trình trùng lắp, chậm đổi mới,... đã dẫn tới tình trạng một số cán bộ, đảng viên do nhận thức mơ hồ hoặc cố tình cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin không phù hợp với Việt Nam vì có nguồn gốc từ phương Tây; một số học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, đấu tranh giai cấp, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã lỗi thời, lạc hậu, không còn là động lực cho phát triển xã hội hiện nay, giai cấp công nhân không phải là lực lượng lãnh đạo, mà là trí thức mới, là lực lượng lãnh đạo xã hội,… Một dạng khác cho rằng, nước ta cần từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ cần Tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ và nâng Tư tưởng Hồ Chí Minh thành Học thuyết Hồ Chí Minh, để từ đó phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời phủ nhận luôn Tư tưởng Hồ Chí Minh.  
4. Biểu hiện vô cảm, chưa chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động; phụ họa theo các quan điểm lệch lạc
Trong thời gian qua, lực lượng thù địch có nhiều bài viết sai trái, phản động với những thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Trên thực tế, chúng ta đã có những bài viết đấu tranh, phản bác lại, một số bài có nội dung tốt vạch trần rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng. Tuy nhiên, một đội ngũ lớn cán bộ, đảng viên được đào tạo về mặt lý luận nhưng số lượng bài viết đấu tranh, phản bác không có nhiều. Lý do là một bộ phận cán bộ, đảng viên tuy có trình độ cao về lý luận, nhưng vô cảm, coi đây là công việc của người khác, một bộ phận do thiếu trình độ hoặc thiếu thông tin nên không có bài viết đấu tranh phản bác, hoặc đấu tranh nhưng tính thuyết phục không cao. Điều đáng nhấn mạnh là một bộ phận cán bộ, đảng viên còn phụ họa cho các quan điểm sai trái, lấy đó là căn cứ để thể hiện sự hiểu biết của mình đối với người khác.
5. Bệnh thành tích trong học tập lý luận chính trị
Trong học tập lý luận chính trị nổi lên là bệnh thành tích. Một số cơ quan, đơn vị lấy số lượng lớp đào tạo, bồi dưỡng, số học viên tham gia đào tạo bồi dưỡng về lý luận chính trị là thành tích để báo cáo, không coi trọng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Một số cán bộ, đảng viên ít coi trọng công việc cơ quan, đơn vị, tập trung nhiều thời gian để học được càng nhiều văn bằng, chứng chỉ càng tốt để thuận lợi cho việc quy hoạch, bổ nhiệm, nâng lương, đề bạt… Trong học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, một số biểu hiện làm qua loa, sao cho đúng tiến độ, mở được nhiều lớp, không có sự đổi mới về hình thức, phương pháp, dẫn đến chất lượng học tập, quán triệt không cao.
6. Biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nhận thức và học tập lý luận chính trị
Suy thoái về tư tưởng chính trị trong học tập lý luận chính trị đến một mức độ nhất định sẽ chuyển thành “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do nhận thức trong học tập lý luận chính trị còn hạn chế, bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động cũng sẽ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ, đảng viên tuy đã được đào tạo lý luận chính trị bài bản, trình độ cao, do không chịu thường xuyên học tập lý luận chính trị, không chịu nghiên cứu dẫn đến lạc hậu cũng dễ dẫn tới tin theo vào thông tin sai trái, bịa đặt.
Biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là có những bài viết trực tiếp hoặc cổ vũ nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; phủ nhận thành quả cách mạng và sự nghiệp đổi mới; phủ nhận đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,…
Như vậy, mức độ hiệu quả của học tập lý luận chính trị thể hiện ở mức độ tin tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong Đảng; còn mức độ suy thoái về tư tưởng chính trị và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng thể hiện ở mức độ yếu kém, bất cập trong công tác giáo dục lý luận chính trị.
Trên đây là, một số biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nhận thức và học tập lý luận chính trị. Suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nhận thức và trong học tập lý luận chính trị là vấn đề đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ. Trong học tập lý luận chính trị nếu không có sự đổi mới, quản lý nghiêm túc cũng dễ dẫn đến một số căn bệnh khác, đó là bệnh quan liêu, lãng phí, chạy bằng cấp, là cơ sở để tham nhũng, nhất là tham nhũng vị trí, chức vụ,…
Đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ “xây” để “chống”, nếu bị nguy hại ở khâu đầu sẽ kéo theo hành loạt những hệ lụy về sau. Vì vậy, cần khẩn trương chấn chỉnh lĩnh vực giáo dục lý luận chính trị, nhất là xây dựng cơ chế để khắc phục ngay từ đầu các căn nguyên của sự suy thoái và các căn bệnh trong lĩnh vực này.
PGS, TS. Phạm Văn Linh 
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

Đoàn kết, lời căn dặn thiết tha của Bác 6:18' 11/3/2018 Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngoài cùng bên trái) với các đại biểu về dự Đại hộ...